Vui mừng chào đón

0 khách và 0 thành viên

Ảnh ngẫu nhiên

270.jpg Mungxuan.swf Happy_new_year.swf Edited_1472745151614.jpg Video_13cailuongEnglish.flv SnSam6316.flv Down_on_the_farm__Bai_hat_thieu_nhi_tieng_Anh.swf VinhLamCGCtpHue15__561.flv Images.jpg Lang_hoa.jpg SNWEBPMai.jpg 18_Sonat_Anh_trang.mp3 Videoplayback_.flv 31VVQ.flv Gio_hoa_4.jpg Chu_roi_2011.swf Chuc_mung_nam_moi4.jpg ChucMungNamMoi.jpg 001_CHUC_MUNG_NAM_MOI_2015.swf 02_BONG_HONG_TANG_CO.swf

Tài nguyên dạy học

Khách ghé thăm

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • free counters

    Chào mừng quý vị đến với Hành trang cuộc sống - Lê Thị Phương Mai .

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
    Gốc > ĐỌC VÀ CẢM NHẬN > Nhạc phẩm >

    Mỹ cảm trong ca từ Trịnh Công Sơn

    Chương 1
    CÁI BI TRONG CA TỪ TRỊNH CÔNG SƠN

    Nhớ thương ai
    Khi trăng vừa mọc
    Giữa trời không mây
    Trái tim ứa lệ
    Nên rồi trăng phai.
                (Saigyo)
    Nhật Bản là mảnh đất của  niềm bi cảm. Có khó hiểu không khi cũng chính đó là thiên đường của cái đẹp. Phải chăng, ở đâu có nỗi buồn thì ở đó có cái đẹp? Hay là chính cái đẹp đã khai sinh ra niềm bi cảm? Bi cảm ẩn tàng trong một ánh trăng phai, trong những cánh đào buông mình hay những đóa triêu nhan cánh mỏng. Nhạc Trịnh ôm trọn nỗi buồn diễm lệ ấy.

    Với Trịnh Công Sơn, mọi nỗi buồn đều chảy ra từ suối nguồn vô thường. Ngay trong phút yêu nhau đã có phút rời xa. Ngay trong hội ngộ đã có chia ly. Sự vật phai phôi trong từng sát na  của cõi người. Chiếc lá thu úa vàng còn được người phủ lên lớp “phai” mỏng manh của sự tàn tạ. Vì mùa thu chưa đủ buồn, hay vì người muốn khai hoang thêm một mùa sương khói ảo ảnh giữa thu và đông thường tình của đất trời? Mùa ấy xanh xao hơn mùa thu và chưa ôm đủ lá vào mình để đau buồn như mùa đông…

    Nỗi buồn của người Nhật phôi thai từ thân phận hoa đào. Người ta kể rằng, anh đào rơi rụng ngay trong mùa hồng tươi phơi phới thì con gái. Còn cái đẹp nào bi ai hơn thế, và còn niềm bi cảm nào đẹp hơn thế? Đường thi thì lại chất ngất những áng thơ đẹp nhất, hay nhất về đề tài biệt ly. Còn Trịnh Công Sơn, ông khai sinh cho nỗi buồn bằng những cuộc tình xanh xao, những nhan sắc gầy guộc, bằng những đóa vô thường mỏng manh cuối trời…

    Hoa đào đẹp, phải chăng vì có một ngày, gió sẽ mang hoa ra đi trong tan tác đau thương? Phút chia ly đẹp, phải chăng vì nó sắp vuột khỏi tầm tay?

    “Nếu con người không bao giờ tan biến như những giọt sương trên cánh đồng Adashi; không bao giờ mất hút như làn khói trên ngọi núi Toribe, mà lại đeo đẳng vĩnh viễn trên thế giới này, thì còn gì làm cho ta xúc động nữa! Điều quý báu nhất trong đời sống chính là nỗi vô thường.”
                                        (Kenko)
    “Điều quý báu nhất trong đời sống chính là nỗi vô thường.” Chính nhân sinh quan ấy đã cứu rỗi tâm hồn Trịnh Công Sơn. Ông thương yêu nỗi vô thường bằng nỗi buồn tàn phai của một bông hoa. Ông kiếm tìm hạnh phúc ngay trong cõi vô thường. “Tôi đã yêu đời bằng nỗi lòng của tên tuyệt vọng.”  Nếu phải tóm tắt bi cảm trong ca từ Trịnh Công Sơn, tôi sẽ dùng duy nhất câu nói ấy mà thôi.
    Thế đấy, cậu Hoàng tử nhỏ ấy đã cùng cây đàn lya của mình  đi qua miền đất này bằng những lời ca như thế, bằng những nỗi bi cảm như thế. “Tìm lại trên sông những dấu hài.” . Xin được ướm vào những “dấu hài” đã cùng Hoàng tử bé da du qua những muộn phiền nơi trần thế, như Trịnh Công Sơn đã từng “đi đến tận cùng nỗi tuyệt vọng để thấy tuyệt vọng cũng đẹp như một bông hoa”. 

    1.1.    Vô thường

    Dấu hài đầu tiên chúng tôi tìm về là “Vô thường”. Vô thường nằm đó trong nhạc Trịnh. Với những hình ảnh đã trở thành nỗi ám ảnh: “chuyến xe”, “quán không”, “phù du”, “chiếc lá thu phai”, “đóa hoa vô thường”, “vết lăn trầm”… Như thể an nhiên giữa ngàn năm trước và ngàn ngàn năm sau. Từ Phôi pha, Đóa hoa vô thường, đến Chiếc lá thu phai, Rơi lệ ru người, Như một lời chia tay… đều là cõi thế của vô thường. Đều là cái vô sắc của nghệ thuật.

    Nếu phải gắn cho “Vô thường” một dấu mốc, có lẽ người ta chọn ngày nó được đánh thức bởi Đức Phật. Từ đó trở đi, người ta nghĩ về “vô thường” như một tư tưởng của Phật Giáo. Nhưng thật ra, “vô thường” tồn tại giữa thế gian này như cỏ cây, hoa lá, như tình yêu, như con người. Có lẽ bắt đầu từ ngày Eva ăn trái cấm và sự sống thành hình, “vô thường” bàng bạc khắp cõi người. “Vô thường”, là không thường hằng, không vĩnh cửu. Ngay cả trăng cũng tàn, thu cũng phai kia mà! Vậy thì làm gì có mãi mãi, làm gì có bất biến. Sự vật không ngừng biến đổi trong từng khoảnh, từng khắc. Và vì thế cuộc đời không ngưng tiếng thở than. Nhưng thở than để rồi biết “yêu thêm yêu cho nồng nàn” , biết “cuộc đời đó có bao lâu mà hững hờ” … Từ nỗi bi thiết, vô thường hóa kiếp thành một kinh nghiệm thẩm mỹ, một phạm trù của cái đẹp. Chẳng phải từ lỗi lầm của Adam và Eva, người ta mới biết có thiên đường hay sao! Trước đó, sự thường hằng đã cướp mất vẻ đẹp của trần gian. Adam mãi mãi là Adam và Eva mãi mãi là Eva. “Làm sao biết từng nỗi đời riêng. Để yêu thêm yêu cho nồng nàn.”?

    1.1.1.    Cõi này là Hoa

    Để bắt đầu phiêu du trong dấu hài của vô thường, chúng tôi mượn đoản thơ sau của Thiền sư Hakuin:
    Niết Bàn ngay trước mặt ta
    Thân này là Phật
    Cõi này là Hoa.

    Một tư tưởng Phật giáo. Một cảm hứng nghệ thuật. Mang cùng một tên gọi “Vô thường”, nhưng chúng chảy về hai hướng khác nhau.
    Như đã nói ở trên, cái gốc của “vô thường” là nỗi phù du của cuộc đời. Bởi nỗi phù du đó, mà cả Đức Phật và người nghệ sỹ đều nhận thức được rằng, trên đời này, chẳng có gì đáng bám víu. (Mà cũng có bám víu được đâu!) Để rồi từ đó, cả hai đấng linh thiêng ấy kiếm tìm con đường giải thoát.

    Trên con đường Diệt đế, Thích-ca Mâu-ni rũ bỏ trần thế, đi vào cõi Niết Bàn thường hằng. Vĩnh viễn nơi đó không có khổ đau. Như thuở hồng hoang loài người, khi Adam chưa ăn trái cấm và Eva chưa phạm sai lầm.
    Trong cõi vô thường, “người hát rong” ấy lãng du trong cõi tạm. An nhiên giữa vô thường. Người ấy biết buồn, biết đau. “Làm sao em biết bia đá không đau.” Một con người, một người nghệ sỹ, một “loài chim nhỏ hót chơi trên đầu những ngọn lau”, làm sao thoát được nỗi đau vô thường. Nhưng nếu từ bỏ, mãi mãi con người cũng không biết đến hạnh phúc thế trần. Mãi mãi không chạm đến được cái đẹp. Ươm mầm trong trái tim nghệ sỹ, nỗi buồn thoát thai thành cái đẹp. Và quả thật với Trịnh Công Sơn, Phật giáo chỉ là đôi cánh đưa ông thăng hoa trong nghệ thuật, trong cuộc nhân sinh lớn lao của nhân loại. Với ông, giải thoát là dấn thân, là yêu, là nồng nàn với cuộc đời:

    Làm sao biết từng nỗi đời riêng
    Để yêu thêm, yêu cho nồng nàn.
    Muốn một lần tạ ơn với đời
    Chút mặn nồng cho tôi.
                (Như một lời chia tay)
    Bởi lẽ, mỗi người chỉ sống được một lần, yêu thương một lần. Bởi lẽ hôm nay còn đó, mai đã xa rồi. Bởi lẽ cõi vô thường lắm chia ly. Dường như với ông, một cuộc đời quá nhỏ nhoi để có thể yêu hết tình yêu đang mỗi ngày một sinh sôi nảy nở trong trái tim con người.

    Tôi yêu mọi người, cỏ cây muôn loài
    Làm sao yêu hết cuộc đời.
            (Tự tình khúc)

    “Với tôi, Phật giáo là thứ triết học làm cho ta yêu đời hơn chứ không phải là lãng quên cuộc sống.”
                                        (Trịnh Công Sơn)
    Từ một tôn giáo dạy con người ta từ bỏ cõi đời để bước vào miền vĩnh hằng, Trịnh Công Sơn đã biến thành thứ tôn giáo của riêng mình, thứ triết học của “cõi Hoa”, của cái đẹp. Nếu như Đức Phật từ bỏ thì ông dấn thân, nếu như Phật Giáo tìm đường đến Niết Bàn thì ông ở ngay trong cõi vô thường để xây cho riêng mình một Niết Bàn. Một cõi đầy hoa và yêu dấu.

    Hãy yêu ngày tới
    Dù quá mệt kiếp người
    Còn cuộc đời
    Ta cứ vui.
            (Để gió cuốn đi)

        Đó là điểm khác nhau giữa tôn giáo và nghệ thuật. Khi mà tôn giáo hướng đến sự giải thoát, thì nghệ thuật lại trên đường kiếm tìm lý lẽ của cái đẹp. Cho nên, vô thường trong nghệ thuật không dạy người ta trút bỏ hết những gánh nặng trên vai để hoàn nguyên về thuở ban sơ. Chưa từng biết đau khổ và cũng chưa từng nếm mùi hạnh phúc. Học lẽ vô thường, nghệ thuật thấm thêm máu vào tim, để biết tha thiết. Vô thường nêm thêm muối cho nước mắt, để biết ngọt ngào của hạnh phúc. Vô thường níu con người lại với từng khoảnh khắc, để biết quý từng sát na. Vô thường là gió để con diều nghệ thuật được thăng hoa.
    “Tôi không quan niệm tìm đến Phật mà là trở về với Phật tính trong cõi riêng mình. Đó là quê hương, là chiếc ngai Phật. Tôi ngồi, Phật sẽ tràn ngập tôi và tôi sẽ tràn ngập Phật”
                                        (Trịnh Công Sơn)
    “Thân này là Phật
    Cõi này là Hoa.”

    Thân Phật, cõi Hoa- còn gì an nhiên hơn thế. Còn gì giải thoát hơn thế. “Người hát rong” ấy đã đứng giữa vô thường mà bước ra khỏi mọi hệ lụy của cõi vô thường. Để chu du. Để thiết tha. Và để tạo ra cái đẹp.

    Hãy nghiêng đời xuống
    Nhìn suốt một mối tình
    Chỉ lặng nhìn
    Không nói năng
    Để buốt trái tim…
            (Để gió cuốn đi)

    Trong cõi Vô thường, Phật dạy ta từ bỏ. Còn Trịnh Công Sơn dạy ta yêu. Yêu từng nỗi vô thường. Dù cho chỉ để “buốt trái tim”, dù cho “tôi đã yêu đời bằng nỗi lòng của tên tuyệt vọng.” Yêu từng “lần môi cười” đến từng “lần tay rời” . Dù cho đã có lúc ông thấm thía nỗi vô thường:

    Ôm lòng đêm nhìn vầng trăng mới về
    Nhớ chân giang hồ
    Ôi phù du từng tuổi xuân đã già
    Một ngày kia đến bờ
    Đời người như gió qua.
            (Phôi pha)

    Thì người viết tình ca vẫn yêu thương cuộc đời bằng cả “tiếng cười khóc giữa đời”.
    Như một định mệnh, người nhạc sỹ ấy “không ngừng dan díu với những giọt nước mắt của đời làm của cải riêng tư.”

    1.1.2.    Trầm tư trên cỏ

    Là tên một tập tùy bút xa xưa. Của Yoshida Kenko. Tập tùy bút của nỗi vô thường. Của cái đẹp kiếp phù du. Của một niềm bi diễm đã trở thành nghệ thuật.
    Là một thái độ, một nhân sinh quan, một cách dấn thân. Trên cỏ, “trầm tư” để lắng mình tan vào hương cỏ chỉ một thời thơm tho ấy. Hay để lùa hết hương đời vào tim mình? Bởi cỏ rồi một ngày sẽ úa tàn. Bởi đời rồi một ngày sẽ “xay mòn thành cát bụi”.  Nên:

    Mỗi ngày tôi chọn một lần thôi
    Chọn tiếng ru con nhẹ bước vào đời
    Tôi chọn nắng đầy,
    Chọn cơn mưa tới
    Để lúa reo mừng tựa vẫy tay.
                        (Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui)

    Đó cũng là lý do tôi về với nhạc Trịnh Công Sơn như đứa con trong gia đình và đến với thơ Xuân Diệu như một vị khách.
    Xuân Diệu ồn ã. Trịnh Công Sơn trầm lắng. Xuân Diệu cuồng nhiệt. Trịnh Công Sơn điềm đạm. Xuân Diệu gấp gáp. Trịnh Công Sơn chậm rãi. Xuân Diệu trẻ trung. Trịnh Công Sơn không có tuổi. Xuân Diệu “tắt nắng”, “buộc gió”. Trịnh Công Sơn “gọi mưa”, “thắp nắng”. Xuân Diệu ném màu vẽ lên cuộc đời, làm thành những mảng màu đậm nét và bấn loạn. Còn Trịnh Công Sơn, ông nhẹ nhàng thả lên bức tranh ấy từng nét vẽ mỏng và nhạt. Cũng là tình yêu cuộc sống, nhưng tình yêu của Xuân Diệu là thứ tình yêu đam mê cháy bỏng của một loài phù du không chấp nhận sự thật về mình. Trái lại, tình yêu của Trịnh Công Sơn là thứ tình yêu đã được lọc qua Phật giáo và Thiền vị. Thứ tình yêu nhẹ như mây và thanh thản như trẻ thơ. Nếu Xuân Diệu vội vàng cuồng si tranh thủ từng phút giây sống với đời, thì Trịnh Công Sơn hồn nhiên nhấm nháp từng sát na. Nếu thơ Xuân Diệu là biển cuồn cuộn sóng, thì nhạc Trịnh Công Sơn là dòng sông an nhiên. Thử đọc lại thơ Xuân Diệu:

    Mau đi thôi! mùa chưa ngả chiều hôm,
    Ta muốn ôm
    Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn:
           Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,
           Ta muốn say cánh bướm với tình yêu,
           Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều
           Và non nước, và cây, và cỏ rạng,
           Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng,
           Cho no nê thanh sắc của thời tươi;
           - Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!
                        (Vội vàng)
    Và nhạc Trịnh:

    Em đứng lên gọi mưa vào hạ
    Từng cơn mưa, từng cơn mưa, từng cơn mưa
    Mưa thì thầm dưới chân ngà
    Em đứng lên mùa thu tàn ta
    Hàng cây khô cành bơ vơ
    Hàng cây đưa em đi về giọt nắng nhấp nhô.
                        (Gọi tên bốn mùa)

    Tôi nghĩ Trịnh Công Sơn gần với các thi sỹ xứ hoa đào hơn.
    “Nếu con người không bao giờ tan biến như những giọt sương trên cánh đồng Adashi; không bao giờ mất hút như làn khói trên ngọn núi Taribe, mà lại đeo đẳng vĩnh viễn trên thế giới này, thì còn gì làm cho ta xúc động nữa! Điều quý báu nhất trong đời sống chính là nỗi vô thường.”
                                    (Trầm tư trên cỏ)
    Gần bảy trăm năm cho một hội ngộ. Hãy nghe “Kenko của thế kỷ hai mươi” kể về nỗi tha thiết vô thường:
    “Cuộc sống là một niềm an ủi vô bờ. Cuộc sống chỉ cho ta mà không cần lấy bớt đi. Cuộc sống cho ta tất cả và mỉm cười khi thấy ta dại dột. Con người sinh ra vốn bất toàn và để làm những điều lầm lỗi. Nó đẹp vì bất toàn. Nó đáng yêu vì nó luôn lầm lỗi.”
    Và hát về vô thường:

    Đời ta có khi là lá cỏ
    Ngồi hát ca rất tự do.
            (Đêm thấy ta là thác đổ)

    Đó là cuộc hội ngộ của những nhánh sông cùng phôi thai từ lòng mẹ Viễn Đông, hay là sự giao cảm kỳ lạ giữa hai con người tài hoa, hai trái tim nhạy cảm?
    Học lẽ Vô thường, con người lang thang ấy tìm kiếm ý nghĩa cuộc sống ngay giữa lòng vô thường. “Theo Kenko, có thể nói rằng giọt sương là quý báu bởi vì nó vô thường, vẻ đẹp của phụ nữ là quý báu bởi vì nó vô thường, hoa phù dung quý báu bởi vì nó vô thường. Vậy hãy biến vô thường thành sở hữu của ta, và tận hưởng cho đầy, nâng niu cho trọn, ôm ấp cho thỏa thuê.”
    Còn Trịnh Công Sơn, ông sống trong từng sát na - một đơn vị thời gian nhỏ nhất, là một niệm, một ý, được tính bằng thời gian một ý nghĩ chớp qua trong đầu.

    “Không hiểu sao, dạo gần đây tôi thường nghĩ về Phật giáo như một thứ tôn giáo mang nhiều tính chất hiện sinh nhất. Bắt đầu bằng chữ sát na, một đơn vị thời gian siêu nhỏ. Phải biết sống hết mình trong mỗi sát na của thực tại. Từ mỗi cái ăn, cái uống, cái đi đứng, nằm ngồi. Không làm công việc này mà nghĩ đến công việc khác.”
    Loài chim nhỏ ấy không ngại lao mình vào gai nhọn của cõi vô thường để cất lên tiếng hót bi diễm cho đời.
    Ông yêu quý cả nỗi đau, ông hạnh phúc cả trong “những cuộc tình bất hạnh”:

    Ngày tháng nào đã ra đi khi ta còn ngồi lại
    Cuộc tình nào mãi ra khơi ta còn mãi nơi đây
    Từng người tình bỏ ta đi như những dòng sông nhỏ
    Ôi, những dòng sông nhỏ, lời hẹn thề là những cơn mưa.
                                (Tình xa)

    Và dẫu cho, lời hẹn thề chỉ là những cơn mưa. Mưa đẹp, nhưng mưa buồn. Mưa vây phủ mọi bề, nhưng rồi mưa cũng tan vào hư không. Chẳng còn dấu tích nào để xác tín cho một lời hẹn thề. Để rồi ông vẫn yêu, vẫn nồng nàn và da diết:

    Tình ngỡ chết trong nhau
    Nhưng tình vẫn rộn ràng
    Người ngỡ đã quên lâu
    Nhưng người vẫn bâng khuâng
    Những ngón tay ngại ngùng
    Đã ru lại tình gần…
            (Tình nhớ)

    Để rồi trong trái tim trẻ thơ ấy, khoảnh khắc chia ly, nỗi buồn xa cách từ những con sâu u sầu nằm trong lòng đất, một ngày nọ, hóa thành chú ve con hát mãi khúc hoan ca cho đời. Với Trịnh Công Sơn, vô thường là “một đóa thơm tho”: “Hãy đi đến tận cùng nỗi tuyệt vọng để thấy tuyệt vọng cũng đẹp như một bông hoa.”

    Tình yêu như nỗi chết
    Cơn đau thật dài
    Tình khâu môi cười
    Hình hài xưa đã thay
    Măn nồng kia cũng phai
    Tình chia nhau gian dối
    Tình đày tình đôi nơi.
                (Tình sầu)

    “Bông hoa” ấy khai hương cả trong cái chết, trong niềm đau. Để rồi lành lặn những vết thương. Để rồi khâu vá lại những môi cười tơi tả trong những cuộc đời tưởng đã rách nát. Chỉ để một ngày, hình hài dấu yêu kia thay đổi. Chỉ để một ngày, mặn nồng xưa phai màu. “Ôi áo xưa em là một chút mây phù du, đã thoáng qua đời ta.”
    “Có lẽ thế, bởi em sinh ra là để nuôi nấng nỗi buồn của đời tôi. Cũng bởi em là loài-phù-du-tóc-dài để hiểu tôi trong mọi nỗi phù du…”
                                (Hoàng Phủ Ngọc Tường)

    Và cứ thế, “tôi” cứ bé dại như mới yêu lần đầu:

    Tôi đã yêu em trong mùa gió
    Khi lá cây khô bay đầy ngõ
    Yêu em không cần vội vã
    Tôi đã yêu em như trẻ thơ
    Đâu biết đôi khi có lìa xa
    Yêu trong nỗi đau tình cờ.
            (Trong nỗi đau tình cờ)

    Và nỗi đau của chia lìa, dường như cũng là “tình cờ”. Bởi chẳng có người bỏ rơi và người bị bỏ rơi. Ta cứ đến và cứ đi, như một cuộc tình cờ. Tình cờ, ta có nhau, và cũng tình cờ, ta xa nhau. Cõi vô thường lắm lúc thảnh thơi hai chữ “tình cờ”.
    Người tình ấy bao dung, yêu những đắm say và yêu cả những phụ rẫy:

    Yêu em, yêu thêm tình phụ
    Yêu em lòng chợt từ bi bất ngờ.
                (Ru em)
    Người tình ấy độ lượng:
    Hai mươi năm xin trả nợ người
    Trả nợ một thời em đã bỏ ai
    Hai mươi năm xin trả nợ dài
    Trả nợ một đời em đã phụ tôi
    Em phụ tôi một thời bé dại
    Thơ dại ra đi không nhớ gì tôi
    Thơ dại ra đi quên hết tình tôi.
                (Xin trả nợ người)

    “Món nợ” hai mươi năm mỏi rã đôi vai được hóa giải bằng từ “thơ dại” đáng yêu! “Tôi” đáng yêu đã đành, “em”, từ một “phạm nhân” cũng trở thành một người đáng được bảo bọc, chở che. Đáng được nâng niu, trìu mến. Ngày xưa, hai mươi năm trước, và cả bây giờ, với “tôi”, “em” vẫn “thơ dại”, vẫn bé bỏng, vẫn cái vô tâm đáng được tha thứ. Mãi mãi, “kẻ du ca” ấy là “người ở lại”. Mãi mãi, người đàn ông ấy là chú Hoàng tử bé mang nỗi ưu phiền trong veo của một người tình luôn hạnh phúc trong những-cuộc-tình-bất-hạnh.
    Mang tình yêu của một tên tuyệt vọng da du qua khắp miền đồng thảo. Để học về nỗi Vô thường. Để say đắm từng ngọn cỏ, từng làn hương.
    Và để chúng ta có những bản tình ca cứu chuộc những phận người nhỏ bé. Để biết ấp ôm một nhan sắc.

    Tìm em tôi tìm
    Mình hạc xương mai
    Tìm trên non ngàn
    Một cành hoa khôi
    Nụ cười mong manh
    Một hồn yếu đuối
    Một bờ môi thơm
    Một hồn giấy mới.
            (Đóa hoa vô thường)

    Ấp ôm cõi Vô thường. “Tôi là ai mà yêu quá đời này.”

    1.1.3.    Chút phấn hương bay

    Nếu được đặt tên cho nỗi bi cảm trong nhạc Trịnh, có lẽ, tôi sẽ chọn cái tên ấy. “Chút-phấn-hương-bay”. Phấn thì dễ phai, hương thì chóng bay. Mà chỉ là một chút thôi. Thì ngày sau có còn lại gì? Là Vô thường. Để ngửi thấy làn hương mỏng manh  ấy, phải về giữa vô thường, nói như Kenko là “tận hưởng cho đầy, nâng niu cho trọn, ôm ấp cho thỏa thuê.”  Và, phải bằng sự nhạy cảm của một người yêu đời đến đau nỗi đau của đá, buồn vệt buồn của từng “dấu chim di”. Của một người tình nhắn nhủ trong “yêu dấu tan theo”:

    Sau lưng thời con gái
    Môi son đừng biếng lười
    Cho ta còn mãi mãi
    Chút mùi phấn hương bay.
            (Yêu dấu tan theo)

    “Vết buồn khắc trên da”  ấy vĩnh viễn là nỗi buồn diễm ảo in dấu lên ca từ Trịnh Công Sơn. Là sự hòa điệu giữa cảm thức về sự phai phôi của văn học phương Đông và cái ảo ảnh khói sương đặc trưng của nhạc Trịnh. Khác với cái bi trong văn học phương Tây, niềm bi cảm ấy không tìm đến một giá trị vĩnh cửu, một hình ảnh bất tử để nương nhờ chút ý nghĩa cuộc sống. Mà nó tìm kiếm ý nghĩa cuộc sống ngay trong lòng vô thường. Nỗi buồn mãi mãi chỉ là nỗi buồn, niềm đau của đá ở lại với niềm đau của đá, và những cuộc tình qua đi như một giấc mơ đẹp, như một lần chuyển mùa:

    Ngày ra đi với gió
    Ta nghe tình đổi mùa
    Rừng đông rơi chiếc lá
    Ta cười với âm u…
            (Những con mắt trần gian)

    Chú Hoàng tử bé thản nhiên tin vào cuộc sống, thản nhiên yêu qua “bao lần tay rời”, và đắm say như một lần duy nhất trong đời còn được yêu. Với chú, “khi bạn hát một bản tình ca là bạn đang hát về cuộc tình của mình. Hãy hát đi, đừng e ngại, dù hạnh phúc hay dở dang thì cuộc tình ấy cũng là một phần máu thịt của bạn rồi.”  Cứ thế yêu, cứ thế tái sinh qua mỗi cuộc tình. Chỉ một lời cuối cho tình yêu:

    Ngày nào mình thôi có nhau
    Xin người biết đau.
        (Chiều một mình qua phố)

    Dường như ta không chạm được vào nỗi buồn mong manh ấy, dù nó lãng đãng vây quanh ta. Dường như có lại dường như không. Dường như rất thật lại dường như ảo ảnh. Và hẳn nhiên, phải tinh tế lắm, phải nhạy cảm lắm để đảnh lễ với niềm bi cảm ấy.
        Đảnh lễ với cái đẹp của một “đóa hoa vàng mỏng manh cuối trời”, của một “chiếc lá thu phai”. Hay dấn bước vào thế giới đầy máu và nước mắt của bi kịch phương Tây? Của nàng Mê-đê vừa đáng thương vừa đáng sợ. Của thứ phức cảm ghim sâu trong tâm khảm người đọc mang tên Ơ-đíp? Sợ hãi, thương xót, để rồi như một lần thanh lọc, cuộc đời đáng sống hơn vạn lần.

        Máu và nước mắt hay nỗi buồn xanh xao của một buổi chiều:
        Chiều chủ nhật buồn, nằm trong căn gác đìu hiu
        Ôi tiếng hát xanh xao của một buổi chiều
        Trời mưa trời mưa không dứt
        Ô hay mình vẫn cô liêu.
                (Lời buồn thánh)

    Tôi cho rằng việc đó tùy vào cảm thức thẩm mỹ của mỗi người. Tựa như việc thưởng thức một tách trà. Có người chỉ cần ngửi hương trà là đã cảm nhận được biết bao mùa lá đã qua, hoa vẫn thơm và suối vẫn chảy. Lại có người muốn thấu trọn mùi vị thiên nhiên bằng vị giác, bằng xúc giác… Riêng mình, tôi bị mê hoặc bởi cái buồn vừa bi thiết vừa diễm ảo của thế giới văn chương phương Đông, nơi mà chỉ một ánh trăng phai cũng làm cho người ta nhỏ lệ:

    Đêm xuống lạnh
    Gối đầu lên cánh tay
    Hương hoa mơ đầy
    Lệ ứa màu trăng phai.
            (Thiền sư Sogi)

    Nơi mà con người hiền hòa giữa thiên nhiên:

    Tôi đi hái
    Những bông hoa tím
    Trên cánh đồng
    Và tôi ở lại
    Ngủ giữa mùa xuân.
            (Akahito)

    Ở đây phố xá hiền như cỏ
    Có nỗi hồn nhiên giữa mặt người
    Ở đây cỏ sẽ hiền hơn phố
    Bởi dưới chân em có mặt trời.
                (Trịnh Công Sơn, Phố)

    Nơi có những bản tình ca hát bằng nỗi yêu đời của “tên tuyệt vọng”, bằng lòng thơ dại của “Hoàng tử bé”, bằng sự mỏng manh của một “loài chim nhỏ hót chơi trên đầu những ngọn lau”… Và bằng trái tim vô thường của một nhạc sỹ tài hoa.

    Trời còn làm mưa, mưa rơi mưa rơi
    Từng phiến băng dài trên hai tay xuôi
    Tuổi buồn em mang đi trong hư vô
    Ngày qua hững hờ.
    Trời còn làm mưa, mưa rơi mưa rơi
    Từng phiến mây hồng em mang trên vai
    Tuổi buồn như lá, gió mãi cuốn đi
    Quay tận cuối trời.
                (Tuổi đá buồn)

    1.2.    Mộng

    Tàn phai và hư ảo. Đẹp và điêu linh. Đó là mộng.

    Nhớ nhung người
    Nên trong giấc ngủ
    Đã tìm thấy nhau
    Nếu biết là mộng
    Không thức nữa đâu.
            (Komachi)

    Mộng tàn và mộng ảo. Nhưng cuộc đời sẽ hoang phế và già nua nếu một ngày mộng ra đi. Bước vào mộng là bước vào một cuộc chơi vô thủy vô chung. Trong mộng ai ai cũng thành trẻ thơ. Vì vậy mà người ta hoài say mê?
    Cả thế giới chìm trong  mộng. Phương Tây, Borges đắm mình trong ảo ảnh của ảo ảnh, trong “phế tích vòng tròn”  của mình. Phương Đông, huyền thoại Komachi kể rằng: “như một cái cây xinh đẹp, và thay vì trút lá, nàng trút mộng xuống mặt đất dưới chân mình” . Dường như người phương Đông mộng nhiều hơn, sâu hơn. Có biết bao giấc mộng đã chảy trôi trong tâm thức họ. Hồng lâu mộng của Trung Quốc. Mộng phù kiều của Nhật Bản.  Cửu vân mộng của Triều Tiên. Yogavasistha của Ấn Độ. Truyện Kiều của Việt Nam.
    Và Trịnh Công Sơn, ông cũng mộng. Ông đi-về giữa hai bờ thực-ảo. Ông mặc áo cho chữ. Ông đưa nôi ru đời vào mộng. Ông pha người vào vật, pha mộng vào đời thành thứ rượu ngất ngây để thăng hoa thành men say nghệ thuật.
    Và mảnh đất thơm tho ấy, hãy một lần ghé thăm.

    1.2.1.    Cái bóng và lời ru

    Phương Đông có cả một kho tàng những từ chỉ giấc mộng như giấc Nam Kha, giấc Vu Sơn, giấc mộng Trang Chu… Dường như ngôn ngữ đã cạn kiệt với mộng.
    Nhưng với Hoàng tử bé, chàng có luật chơi của riêng mình. Đôi mắt trẻ thơ có bao giờ thôi mới mẻ. “Đứa bé” tài hoa ấy chơi với mộng bằng cái bóng và lời ru.
    Cái bóng của chữ.  Và lời ru của miền ảo ảnh. Nói như tác giả Bích Hạnh thì: Lời ru là khoảng mơ giúp con người nguôi quên thực tại.

    Trước tiên, thử chơi với “cái bóng của chữ”. “Sinh vật nào được Trịnh Công Sơn đụng đến cũng bớt thật đi, và được khoác lên một thứ ánh sáng mới, đủ sức bước ra sân khấu của ngôn từ với vẻ mặt trang trọng.”
    Chào nắng, ta phát hiện ra Trịnh Công Sơn có cả một “bộ sưu tập” nắng: nắng thủy tinh, nắng vàng, nắng lạ, nắng khuya, nắng mềm, nắng vô thường… “Nắng vàng” thì ai cũng biết, vì từng nghe tự cố chí kim, người ta nói nhiều rồi. (Nhưng thật ra có chắc ai cũng từng thấy màu vàng của nắng?). Nhưng nắng thủy tinh, nắng khuya, nắng mềm, nắng lạ, nắng vô thường… thì có lẽ, Trịnh Công Sơn là người nhặt chúng về và giấu trong ca khúc của mình. Nhặt ở đâu? Trong đời không thấy thì hẳn là chúng nằm trong mộng?
    Mưa, cũng một chiếc lọ chứa đầy mưa. Mưa hồng, mưa xanh, mưa trong, mưa đêm, mưa hẹn thề, mưa bụi nhỏ, những chuyến mưa… Mưa của mộng.
    Và gió: gió vô thường, gió hư vô, gió hoang vu…
    Và hoa: “đóa hoa hồng tàn hôn lên môi”, “đóa hoa vàng mỏng manh cuối trời”, “có nụ hồng ngày xưa rớt lại”, “đóa hoa vô thường”…
    Và hạ trắng, hạ khói mây, trăng vô vi, lá hư không, vai lụa mát, ngón xuân nồng…

    Cái bóng ấy đổ dài lên chữ, biến ảo những chữ vốn rất quen thuộc thành lạ lẫm: “phơi cuộc tình”, “sương khoác mềm vai phố”, “vết buồn khắc trên da”, “con đò chở nắng mưa đi”, “tim lăn trên đường mòn”…
    Biến những chữ rất cụ thể thành mơ hồ: “yêu em từ độ”, “hoa vàng mấy độ” hay “tình xót xa vừa”, “giấc ngủ vừa”, “môi em hồng vừa”… “Độ” là độ nào? “Vừa” là vừa ra sao? Tôi ngờ rằng con người ấy cũng biến đời thành mộng mất rồi!
    Hay là chữ đổ dài trên chính cái bóng của mình? Hay là có một thứ ngôn ngữ khác phía bên kia tấm gương mộng?
    Ngôn ngữ của nghệ thuật. Của mộng. Của cái đẹp.

    Những khi không soi chữ vào mộng, Trịnh Công Sơn mượn tiếng ru để đi vào mộng. Trong ca từ của ông, lời ru là biểu tượng của mộng. , Ru tình, Ru em,  Ru ta ngậm ngùi, Ru đời đã mất, Ru đời đi nhé, Ru em từng ngón xuân nồng, Rơi lệ ru người… Bởi “lời ru là khoảng mơ giúp con người nguôi quên thực tại”.  Để bước vào trò chơi với mộng. Mộng, có thể hiểu là giấc mơ, là chiêm bao:

    Lời mẹ ru con đến những khu vườn
    Ru con trưa nắng, í a
    Trong mộng cười ngon
    Ru mộng con thơm…
            (Lời mẹ ru)

    Mà mộng cũng có thể là một trạng thái vượt ra ngoài cái thực tại. Để hoàn tất những giấc mơ dở dang trong đời thực. Và rồi nhân một lần gặp loài chim nhỏ ấy, mộng thoát thai thành nghệ thuật.

    Ru đời đi nhé ôi môi ngon này giữa trần gian
    Ru từng chiếc bóng lênh đênh vào giấc ngủ ngon
    Cho tôi tay gối mong manh
    Cho tôi ôm lấy vai thon.
            (Ru đời đi nhé)

    Ở đó tình yêu được thăng hoa. Ở đó tôi sẽ gối đầu lên mong manh. Là tay em hay tay ta? Là mong manh đời hay mong manh mộng? Cái mong manh đầy diễm ảo của một cuộc tình. “Cho tôi tay gối mong manh”. Tôi tin đó chỉ có thể là thế giới của mộng mà thôi.
    Có phải vì cuộc đời ngoài kia không đủ tình, không đủ em cho trái tim tôi? Không đủ nắng, không đủ mưa cho nghệ thuật tôi. Nên:

    Em gầy ngón dài lời ru miệt mài
    Ngàn năm ngàn năm
    Ru em muộn phiền
    Ru em bạc lòng.   
            (Tuổi đá buồn)

    Người nhạc sỹ ấy một đời hát ru. Cho lời ru nhiệm màu. Cho giận hờn vào quên lãng.
    Nên, con người miệt mài ấy phải bước vào mộng để “lùa nắng”, để “chăn gió mưa” mà đem về chăm bón cho nghệ thuật.
    Vậy mà đôi lần, chuyến xe mộng để quên vị khách của mình lại bên đời. Tàn phai và hư ảo.  Xót xa.

    Dưới mặt trời ngồi hát hôn mê
    Dưới vòng nôi mọc từng nấm mộ
    Dưới chân ngày cỏ xót xa đưa.
                (Cỏ xót xa đưa)

    Mộng hóa nỗi đau chưa bao giờ dứt. Bởi đó là định mệnh của nghệ thuật. Mộng, trong ca từ Trịnh Công Sơn, là những cái bóng của chữ. Là lời ru. Cũng buồn, cũng đau, cũng ở trong cái vòng tròn định mệnh ấy. Nhưng để đổi lấy cái đẹp, thì một ngàn lần nỗi buồn như thế, một ngàn lần định mệnh như thế, tôi cũng an lòng.

    (còn tiếp)

    Phan Thị Diệu Thảo


    Nhắn tin cho tác giả
    Lê Thị Phương Mai @ 06:26 11/05/2013
    Số lượt xem: 1068
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến