Chào mừng quý vị đến với Hành trang cuộc sống - Lê Thị Phương Mai .

Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
Gốc > Ơi cuộc sống mến yêu! >

Lễ Vu Lan với ý nghĩa nhân văn


 

Vu Lan được phiên âm từ tiếng Sanskrit ULLAMBANA, có nghĩa là “Ngày hội cứu những oan hồn”, được tổ chức vào ngày rằm tháng bảy âm lịch hàng năm theo truyền thống Phật giáo.

Lễ Vu Lan được truyền từ Ấn Độ vào Trung Hoa. Lần đầu được tổ chức vào đêm rằm tháng bảy năm 768 ở Trường An - trung tâm kinh đô đời nhà Đường. Lễ này được phổ biến sang các nước châu Á như Hàn Quốc, Nhật Bản, và vào Việt Nam khoảng năm 1302. Sau đó lễ Vu Lan được thịnh hành vào thời nhà Trần qua việc tổ chức các trai đàn chấn tế, nghĩa là bố thí thức ăn cho loài quỷ đói.

Lễ Vu Lan đã được tạo dựng từ truyền thuyết về Mục Kiền Liên, một trong mười đại đệ tử của Đức Phật, người có nhiều khả năng biến hóa thần thông. Một hôm Mục Kiền Liên triển khai huệ nhãn thì thấy mẹ mình là bà Thanh Đế đang bị đày ở địa ngục vì trong tiền kiếp đã gây nhiều nghiệp ác. Mục Kiền Liên vì muốn báo hiếu mẹ nên đã dùng thần thông xuống địa ngục để cứu mẹ. Nhưng không đạt được mục đích dù ngài là bậc A La Hán, Ngài bèn nhờ đến Đức Phật giúp đỡ. Đức Phật mới nói với ngài rằng chỉ có thể phối hợp tất cả nỗ lực của tất cả chư tăng mới có thể cứu thoát được mẹ. Ðức Phật dạy cho Mục Kiền Liên tổ chức cúng dường các tăng ni sau ngày an cư kiết hạ vào ngày rằm tháng bảy để cùng làm lễ cứu giúp cho mẹ ngài.

Kết hợp với truyền thống văn hóa dân gian là tập tục thờ cúng tổ tiên nên trong lễ Vu Lan người ta cúng đồ ăn như cháo, bánh, hoa quả, quần áo và cả các vật dụng khác làm bằng giấy. Ca dao Việt Nam cũng có câu:

Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ Hiếu mới là đạo con

Vì thế lễ Vu Lan cũng là dịp để cho con cháu thực hiện đạo hiếu đối với cha mẹ không chỉ những người đã khuất, ông bà tổ tiên, mà còn có trách nhiệm với các bậc cha mẹ đang còn sống:

Trẻ cậy cha, già cậy con

Vu Lan đã trở thành ngày lễ “Báo hiếu”. Điều này hoàn toàn phù hợp với tư tưởng Phật giáo trong việc coi trọng “Tứ Ân” (ơn cha mẹ, ơn tổ quốc, ơn chúng sinh và ơn Tam Bảo). Đây cũng chính là nét giao thoa của Phật giáo với nền văn hóa Việt.

Không những thế, về sau trong ngày Vu Lan người ta còn hướng tới việc tri ân các chiến sỹ đã hy sinh trong trận mạc, bảo vệ quê hương Tổ quốc, và còn chia sẻ với những vong hồn chết bất đắc kỳ tử hoặc không có người thân cúng viếng. Vu Lan lại được người Việt phát triển thành ngày lễ cúng cô hồn với tên gọi là ngày “xá tội vong nhân”.

Trong khi hành lễ để cứu mẹ Mục Kiền Liên, có nơi đã thực hiện nghi thức “phá ngục”, do đó mà một số chúng sinh cũng được thoát khỏi khổ nạn, đây coi như họ được xá tội cùng với bà Thanh Đế.

Về mặt hình thức thì Vu Lan là lễ cúng cô hồn nhưng nội dung thì Vu Lan là một dịp thuyết pháp cho chúng sinh Quy y Tam Bảo. Tam Bảo là Phật Pháp Tăng mà mọi đệ tử nương nhờ (y theo) vào đó để tu tập nhằm quay về Tâm Phật của bản thân mình mà soi sáng để hướng tới cứu cánh là đạt Giác ngộ và Giải thoát khỏi Khổ. Vì theo giáo lý thì mọi khổ nạn đều do Vô minh, vì tham sân si mà tạo nghiệp và vì vậy mà chúng sinh phải lăn lộn trong vòng luân hồi Sinh Tử với quy luật Nhân quả do Vô minh tạo ra. Khi nhận biết được nguyên nhân là Vô minh thì loại bỏ nó và mọi hậu quả sẽ không còn – thoát vòng luân hồi, thoát khỏi Khổ, trở về với Niết bàn. “Mọi chúng sinh đều là Phật” và “Phật tại Tâm”. Mỗi khi Tâm tĩnh lặng, ta phát huy được nội lục của Tâm thì đạt Tuệ (sự sáng suốt) và nhận biết được sự Vô minh của mình để loại bỏ Nghiệp mà thoát ra khỏi vòng sinh tử.

Qua Vu Lan Đức Phật muốn dạy cho chúng ta những bài học về điều cơ bản của Phật Pháp để thoát Khổ:

1. Không thể dùng thần thông mà giải thoát được kể cả cho bản thân và cho bất kỳ ai, qua việc Mục Kiền Liên không thể cứu được mẹ mình mặc dù có khai triển thần thông cao đến đâu.

2. Không có một đấng siêu nhân nào có thể cứu được mình ngoài bản thân mình. Muốn thoát khổ thì chỉ có bản thân mình tự cứu mình nhờ sự trợ giúp của Tam Bảo bằng cách soi xét lại mọi nghiệp chướng do mình gây ra, sám hối và loại bỏ vô minh.

Ý nghĩa của Vu Lan mà Đức Phật muốn dạy là sau kỳ kiết hạ mọi chư tăng đều đã thu thập được nhiều tâm lực. Tâm lực ở đây có thể hiểu như một dạng năng lượng tinh thần (ý thức) được tập trung cao độ nhờ thiền định trong ba tháng kiết hạ. Nhờ lực lượng này mà có thể giúp bà Thanh Đế thay đổi tâm sai trái độc ác trước đây, đế chuyển hóa thành tâm thiện, tự thoát khổ.

Ở Việt Nam lễ Vu Lan thường được tổ chức tại các chùa và ở cả những nơi công cộng như chợ búa, bến xe… Trong khi hành lễ các vị sư thường tụng kinh Vu Lan Bồn và một số văn tế khác. Đặc biệt ở Việt Nam thường được dùng nhiều nhất là bài Văn tế thập loại chúng sinh của Nguyễn Du.

Văn tế thập loại chúng sinh là một trong những kiệt tác thơ nôm thấm đậm giáo lý nhà Phật. Văn tế thập loại chúng sinh được bắt đầu bằng cảnh trời thu ảm đạm ảo não như ở cõi âm. Thời gian ở đây là sau mùa kiết hạ như trong Kinh Vu Lan:

Tiết tháng bảy mưa dầm sùi sụt,
Toát hơi may lạnh buốt xương khô
Não người thay buổi chiều thu,
Ngàn lau nhuốm bạc lá ngô rụng vàng...

Tiết đầu thu lập đàn giải thoát
Nước tĩnh đàn sái hạt dương chi
Muôn nhờ đức Phật từ bi
Giải oan cứu khổ độ về Tây phương.

Thập loại chúng sinh mà Nguyễn Du đề cập ở đây bao gồm tất cả những thành phần có trong xã hội như: các bậc anh hùng liệt nữ, quan chức đến các sỹ tử, lính tráng, thương gia và cả gái giang hồ, kẻ ăn xin, tù nhân, những kẻ mệnh yểu, chết bất đắc kỳ tử… Tất cả những ai đã trải qua cuộc đời oan nghiệt do dục vọng, vô minh hoặc do cảnh đời oan trái mà phải mê lầm trong cõi nhân thế:

Cũng có kẻ tính đường kiêu hãnh
Chí những lăm cất gánh non sông
Nói chi những buổi tranh hùng
Tưởng khi thế khuất vận cùng mà đau! …

Cũng có kẻ màn lan trướng huệ
Những cậy mình cung quế Hằng Nga,
Một phen thay đổi sơn hà,
Mảnh thân chiếc lá biết là về đâu?
Kìa những kẻ mũ cao áo rộng,
Ngọn bút son thác sống ở tay …

Cũng có kẻ tính đường trí phú
Mình làm mình nhịn ngủ kém ăn
Ruột rà không kẻ chí thân
Dẫu làm nên để dành phần cho ai?
Khi nằm xuống không người nhắn nhủ
Của phù vân dẫu có như không
Sống thời tiền chảy bạc ròng
Thác không đem được một đồng nào đi. ..

Sống đã chịu một đời phiền não
Thác lại nhờ hớp cháo lá đa

Nhờ có sự từ bi phổ độ của Phật Pháp Tăng mà tất cả thập loại chúng sinh đều có khả năng được cứu khổ:

Mười loài là những loài nào?
Gái trai già trẻ đều vào nghe kinh.
Kiếp phù sinh như hình như ảnh
Có chữ rằng:"Vạn cảnh giai không"
Ai ơi lấy Phật làm lòng
Tự nhiên siêu thoát khỏi trong luân hồi….

Giáo lý Phật thường có vô lượng nghĩa để đáp ứng với vô lượng tâm của chúng sinh nhằm mục đích “độ tùy duyên”. Vu Lan là một trong những phương tiện thiện xảo của Đức Phật để dạy cho chúng sinh phép cúng dường chư Tăng và tạo cho các phật tử có duyên lành gieo trồng nhân thiện, trợ giúp chư Tăng tu tập chính quả nhằm cứu độ mọi chúng sinh thoát khỏi vòng luân hồi sinh lão bệnh tử. Đồng thời đây cũng là dịp giáo dục Đạo Hiếu giúp cho các thế hệ con cháu biết nhớ tới công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ, ông bà tổ tiên, cũng như biết tri ân các bậc tiền nhân đã hy sinh dựng xây Đất nước ngàn đời, mà thế hệ trẻ ngày nay cần phải có trách nhiệm gìn giữ non sông và bảo vệ chủ quyền Đất nước trọn vẹn. Và nhân ngày Vu Lan chúng ta có thể bày tỏ thái độ của mình trong việc giữ gìn thiên nhiên, bảo vệ môi trường sống trên Trái Đất: "Be Veg, Go Green, save our Planet" (Ăn chay, hành trình xanh, cứu hộ Hành tinh của chúng ta)

 

Nguồn gốc lễ Vu lan

Hàng năm cứ vào độ trăng tròn tháng Bảy âm lịch, tức khoảng trung tuần tháng Tám dương lịch là ngày lễ Vu Lan trở về. Vào ngày này các chùa Việt Nam và Trung Hoa thường thiết lễ rất trọng thể và các Phật tử đến tham dự rất đông đảo để cầu nguyện cho cha mẹ hiện tiền được an lạc, cha mẹ quá vãng được siêu sanh tịnh độ, cùng là được nghe các thầy giảng về ý nghĩa lễ Vu Lan và đạo hiếu của người con đối với các bậc sinh thành.
Nguồn gốc Lễ Vu lan

Lễ Vu Lan chính thức được bắt nguồn từ một bản kinh ngắn của Phật Giáo Đại Thừa "Phật Thuyết Kinh Vu Lan Bồn", do ngài Trúc Pháp Hộ dịch từ tiếng Phạn sang tiếng Hán vào đời Tây Tấn, tức khoảng năm 750-801 sau Công Nguyên và được truyền từ Trung Hoa vào Việt Nam, không rõ từ năm nào.  

Chữ Vu Lan, vốn phiên âm từ tiếng Sanscrit: Ullambana, Hán dịch là giải đảo huyền, có nghĩa là “cứu nạn treo ngược”.  

Xuất phát từ sự tích về Bồ tát Mục Kiền Liên đại hiếu đã cứu mẹ của mình ra khỏi kiếp ngạ quỷ. Vu Lan là ngày lễ hằng năm để tưởng nhớ công ơn cha mẹ (và tổ tiên nói chung) - cha mẹ của kiếp này và của các kiếp trước.

Theo kinh Vu Lan thì ngày xưa, Mục Kiền Liên đã tu luyện thành công nhiều phép thần thông. Mẫu thân ông là bà Thanh Đề đã qua đời, ông tưởng nhớ và muốn biết bây giờ mẹ như thế nào nên dùng mắt phép nhìn khắp trời đất để tìm. Thấy mẹ mình, vì gây nhiều nghiệp ác nên phải sanh làm ngạ quỷ, bị đói khát hành hạ khổ sở, ông đã đem cơm xuống tận cõi quỷ để dâng mẹ. Tuy nhiên do đói ăn lâu ngày nên mẹ của ông khi ăn đã dùng một tay che bát cơm của mình đi tranh không cho các cô hồn khác đến tranh cướp, vì vậy khi thức ăn đưa lên miệng thức ăn đã hóa thành lửa đỏ.

Mục Liên quay về tìm Phật để hỏi cách cứu mẹ, Phật dạy rằng: "dù ông thần thông quảng đại đến đâu cũng không đủ sức cứu mẹ ông đâu. Chỉ có một cách nhờ hợp lực của chư tăng khắp mười phương mới mong giải cứu được. Ngày rằm tháng bảy là ngày thích hợp để vận động chư tăng, hãy sắm sửa lễ cúng vào ngày đó".

Làm theo lời Phật, mẹ của Mục Liên đã được giải thoát. Phật cũng dạy rằng chúng sanh ai muốn báo hiếu cho cha mẹ cũng theo cách này (Vu Lan Bồn Pháp). Từ đó ngày lễ Vu Lan ra đời.

Nguồn gốc thật sự của nghi thức "Bông Hồng Cài Áo"

Nghi thức "Bông Hồng Cài Áo" thường được tổ chức trong ngày Lễ Vu Lan ở các ngôi chùa Việt Nam hằng năm để tưởng nhớ những bà mẹ đã khuất và vinh danh những bà mẹ còn tại thế với con cháu. Trong nghi thức đó, các em Phật Tử, với hai giỏ hoa hồng, màu đỏ và màu trắng, sẽ đến cài hoa lên áo từng người dự lễ.

Nếu anh còn mẹ, anh sẽ được cài một bông hoa màu hồng trên áo, và anh sẽ tự hào được còn mẹ. Còn nếu anh mất mẹ, anh sẽ được cài trên áo một bông hoa trắng.

Đây là một nghi thức thật dễ thương, nhiều ý nghĩa và rất hữu hiệu trong việc giáo dục đại chúng về lòng hiếu thảo và tình người. Nghi thức Bông hồng cài áo đó được giới thiệu đến người Việt từ một cuốn sách cùng tên của thày Nhất Hạnh được viết vào tháng 8, 1962 và sau đó, được phổ thông hóa nhờ bản nhạc, cũng cùng tên cùa nhạc sỹ Phạm Thế Mỹ.

Rằm tháng 7 Âm lịch cũng là ngày xá tội vong nhân mà dân gian gọi nôm na là ngày cúng chúng sinh.

Nhưng lễ cúng chúng sinh khác với lễ Vu Lan dù được cử hành trong cùng Ngày Rằm. Một đằng là để cầu siêu cho cha mẹ nhiều đời được siêu thoát, một đằng là để bố thí thức ăn cho những vong hồn chưa được siêu thoát, những vong hồn không nơi nương tựa, không người cúng kiếng

Tháng 7 còn là tháng mưa Ngâu – gắn với sự tích ông Ngâu bà Ngâu hay còn gọi là tích Ngưu Lang - Chức Nữ.

http://www.buddhismtoday.com/viet/vulan/aosen.jpg

Mẹ lúc nào cũng ở bên ta, yêu thương, nâng đỡ khi ta gục ngã, mỉm cười lặng lẽ khi thấy ta thành công. Biết bao nhiêu vất vả, biết bao nhiêu khó khăn hoà quyện cùng nước mắt, mồ hôi mẹ đã đổ ra để nuôi ta khôn lớn. Từng ngày, từng ngày bước qua cuộc đời và tuổi thơ của mình, bàn tay và ánh mắt trìu mến của mẹ vẫn dõi theo ta trên từng bước đi, thời gian đã làm đôi bàn tay mẹ gầy guộc nhiều, đôi mắt mẹ đã hằn lên những dấu chân chim nhọc mệt của năm tháng.

Rồi như con chim non lớn lên đủ lông cánh, xa tổ ấm, tự bay đi tìm cho mình một bầu trời, ta trưởng thành và chọn cho mình một con đường giữa muôn vàn sự lựa chọn của cuộc đời. Dẫu con đường ta sẽ đi hôm nay và mai sau có ra sao, thì con đường ấy, ta vẫn sẽ có cảm giác thấy ấm áp, gần gũi biết bao với niềm hy vọng nơi ánh mắt, chén cơm chờ ta mỗi buổi buổi chiều, và gian nhà ngập tràn tình thương yêu của mẹ.

Ngày Vu Lan báo hiếu nhắc đến ân tình cao sâu của người mẹ đã tận tụy suốt đời cực khổ nuôi dưỡng chúng ta. Mỗi người đều nhớ đến và biết ơn sâu sắc công sinh thành và dưỡng dục của Mẹ. Những ai đang được hạnh phúc vì có mẹ bên cạnh thì hãy biết trân trọng những giây phút đáng quý đó và cố gắng bằng tất cả khả năng của mình thể hiện rằng: Bạn yêu Mẹ biết nhường nào!

Mẹ! Vu lan về lòng con đong đầy nỗi nhớ.  Nhớ nơi cằn khô yêu dấu có mẹ của con, người mẹ suốt cuộc đời tần tảo. Mẹ biết  không, Sài Gòn mùa này đang mưa, xen một chút se se lạnh. Mưa Sài Gòn thường xuất hiện bất ngờ, như sự đỏng đảnh của con gái. Mưa rồi tạnh. Không dai dẳng như mưa quê mình nhưng nó cũng đủ làm con gái mẹ cảm lạnh vì cái tính đãng trí hay quên mà ngày xưa thường bị mẹ mắng, nhưng cặp táp con lúc nào cũng có áo mưa mẹ xếp sẵn nên hiếm khi con bị dầm mưa.

Nhiều khi vọng tưởng con cũng muốn lang thang dưới mưa Sài Gòn để tìm cảm giác xưa, nhưng con biết chắc sẽ không ai đón mình với chiếc khăn lông và lời mắng yêu nên đành ghé lại mua vội chiếc áo mưa bên đường. Với lại hình như mưa Sài Gòn không lành như mưa quê mình mẹ ạ, dầm mưa là con bị cam liền.

Cái lạnh Sài Gòn cũng lạ lắm chỉ se se, nhưng ra phố cũng đủ màu sắc của áo ấm, con của mẹ cũng khoác vào chiếc áo ấm, không phải để chống lạnh mà muốn tìm lại hơi ấm của chiếc áo ngày xưa mẹ đan cho con vào những ngày đông rét cắt da quê mình, để có được cảm giác đang được sống giữa mùa Đông “ấm áp” bên mẹ. Con nghĩ đó là cảm giác chung của những người con xa xứ, xa mẹ.

Ngày con bước chân vào cửa Phật, mắt mẹ dõi theo con thật buồn nhưng mẹ vẫn ủng hộ con đường con đi. Con biết tình thương của mẹ vẫn mãi theo con, con ra đi hành lý mang theo là tình thương vô bờ của ba mẹ, một mầm Bồ đề mới nhú và cặp kiếng màu hồng nhìn cuộc đời.

Nhưng cuộc đời chắc chắn không chỉ có màu hồng, điều này khi xa vòng tay ba mẹ con mới hiểu. Có những lúc con an lạc hạnh phúc, vững bước trên con đường mình đã chọn, cũng có đôi khi những chướng duyên làm con thấm mệt, mỏi gối chùn chân. Nhưng con là con của mẹ, một người mẹ không viết nổi tên mình mà nuôi đàn con bốn đứa đều thành danh. Các anh em con luôn ở gần mẹ, nhưng mẹ thương con nhất, đi đâu mẹ cũng khoe mẹ có đứa con gái là Ni cô.

Con tự hứa với mẹ, hứa với lý tưởng mà con đã chọn là con sẽ cố gắng và cố gắng thật nhiều để đền đáp tứ ân trong muôn một. Mẹ biết không, mỗi lần tụng kinh Phổ Môn con hay lan man, có khi nào mẹ là một vị Bồ tát hóa thân vào cuộc đời cho anh em con tình yêu vô bờ. Người ta thường nói không có tình thương nào ví bằng tình mẹ, điều đó quả không sai.

Màu chiều đã nhạt, hoàng hôn loang dần, không gian khoác lên mình một màu thanh bình, dù ngoài kia là phố chợ phồn hoa. Tiếng chuông chiều như đưa con người về với thực tại, với bản thể chân như. Thầm khấn nguyện cho mẹ luôn an lành để con được mãi nương về.

Thích nữ Diệu Sơn

Bông hồng tháng 7

Tháng bảy âm lịch, mùa Vu Lan báo hiếu lại về trong niềm tôn kính, lòng hiếu thảo, tình cảm ấm áp cũng như trong nỗi nhớ vô bờ của những người con dành cho Mẹ.

Mùa Vu Lan, người ta gắn bông hồng đỏ cho người còn Mẹ, bông hồng trắng cho người đã khuất dáng Mẹ hiền. Nghi thức mang tính tượng trưng mà đầy ý nghĩa, như để nhắc nhở rằng “Ta còn có Mẹ, đó là niềm hạnh phúc nhất trần gian, có đốt đuốc đi khắp thế gian cũng không tìm lại được Mẹ hiền”. Không biết tự bao giờ nghi thức này được giới Phật giáo Việt Nam thực hiện, chỉ biết đi cùng với nghi thức này, mỗi mùa Vu Lan về người ta lại nhớ đến bài thơ “Bông hồng cài áo” của thầy Nhất Hạnh và ca khúc phổ thơ cùng tên của nhạc sỹ Phạm Thế Mỹ.

Chính lễ Vu Lan - rằm tháng bảy năm nào tôi cũng đi chùa lễ Phật. Lúc nhỏ đi với Bà nội, với Má, sau này lớn đi với bạn bè, hoặc đi một mình. Nhưng... ít khi được gắn bông hồng! Hồi trước, thời buổi khó khăn, những lễ nghi hình thức cũng ít được bày vẽ nhiều, có chăng chỉ một vài nơi, số ít chùa tổ chức, mà cũng chỉ trong nhóm các phật tử quen thuộc. Sau này thì khác, cứ đến cổng chùa là ai cũng được gắn bông lên ngực. Có điều... chẳng hiểu sao tôi lại không thích lắm với việc phải “kê khai” Còn hay Mất, phải xếp theo hai hàng, hai bên riêng biệt để nhận 2 màu hoa khác nhau. (Dù mình còn có Mẹ, có lý do để hãnh diện được gắn trên mình bông hồng đỏ rực).

Hình như chính những phút thoáng buồn của mấy đứa bạn thân, khi được gắn lên ngực đóa hồng trắng, và có lẽ chính những biểu hiện “vô đạo” của một số người được gắn bông đỏ, trong diện gắn bông đỏ, đã khiến tôi... từ chối (hay đúng hơn là tránh) nhận gắn hoa trong lễ Vu Lan. Từng nhẹ nhàng xếp bông hồng đỏ vào túi áo, tôi cùng hòa mình với những đứa bạn “hồng trắng” vào chùa lễ Phật, trong niềm vui của những đứa con đang hướng về người Mẹ kính yêu của mình.

Đâu là Còn, đâu là Mất!? Nếu đã hiểu lẽ đời thì sự Mất – Còn là không thể cưỡng cầu. Biết là buồn đau, mất mát to lớn không gì bù đắp được khi mất đi Mẹhiền yêu dấu (cũng như mất đi những người thân yêu khác), nhưng đã là quy luật của cuộc đời, ta cũng đành chấp nhận.

Với tôi, vượt lên trên quy luật cuộc sống, vượt lên trên lẽ đời thường, Người Mẹ không bao giờ mất đi cả. Như những bạn tôi cũng đang tâm niệm như thế. Tôi may mắn còn Mẹ, người Mẹ hiện hữu giữa cuộc đời, vẫn ngày ngày quan tâm, chăm lo cho từng bữa ăn, giấc ngủ của con, cháu. Bạn không còn Mẹ, không còn hình dáng Mẹ hiền kề bên, nhưng bạn vẫn còn Mẹ, trong tâm trí, trong từng phút giây, từng ngày tháng, từng hành động, việc làm của bạn, nếu bạn luôn hướng về Mẹ, nghĩ về Mẹ. Đâu có người Mẹ đúng nghĩa nào rời bỏ con mình, kể cả khi không còn hiện hữu bằng xương bằng thịt trên cõi đời, tôi vẫn tin Người Mẹ luôn có mặt bên ta, luôn ở cạnh bên trong những khi ta yếu đuối, cô đơn, những lúc ta thất bại, chán chường, khổ đau, tuyệt vọng... Đó là khi ta cần có Mẹ nhất, và ta luôn có Mẹ!

Sẽ không là bông hồng đỏ, cũng không là bông hồng trắng. Bông hồng của tháng bảy, của Vu Lan để kính dâng lên Người Mẹ chính là tôi, là bạn, là chúng ta, những đứa con mãi mãi bé nhỏ, dại khờ đang từng giờ, từng ngày sống, hoàn thiện và nỗ lực vươn lên trong tình thương bao la, trong từng tiếng ru, lời dạy và trong ánh mắt ấm áp, nhân từ, hiền dịu... mãi mãi không bao giờ tắt của Mẹ.

Hoàng Liên Sơn


Nhắn tin cho tác giả
Lê Thị Phương Mai @ 22:49 29/08/2009
Số lượt xem: 349
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến