Chào mừng quý vị đến với Hành trang cuộc sống - Lê Thị Phương Mai .

Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
Gốc > Hỗ trợ Dạy - Học (B viết) > Địa lý >

Vài nét tổng quan về Anh Sơn - Nghệ An.

Lịch sử hình thành

Dưới chế độ phong kiến nhà Nguyễn, năm Minh Mệnh thứ 3 (1882) phủ Anh- Thanh - Đô được đổi tên thành phủ Anh Sơn (Gồm toàn bộ phần đất của huyện Hưng Nguyên, Nam đàn, Anh Sơn và Đô Lương ). Đến năm 1946, phủ Anh Sơn lúc này bao gồm 2 huyện Anh Sơn và Đô Lương hiện nay.

Huyện Anh Sơn hôm nay được thành lập từ tháng 4 năm 1963, tách ra từ huyện lớn Anh Sơn theo Quyết định số 32/QĐ-TTg ngày 19 tháng 4 năm 1963 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Huyện được cấu thành từ 19 xã và 1 thị trấn: Thị trấn Anh Sơn, Tam Sơn, Đỉnh Sơn, Cẩm Sơn, Thành Sơn, Bình Sơn, Thọ Sơn, Hùng Sơn, Tường Sơn, Đức Sơn, Hội Sơn, Thạch Sơn, Phúc Sơn, Long Sơn, Khai Sơn, Cao Sơn, Tào Sơn, Vĩnh Sơn, Lĩnh Sơn, Lạng Sơn. (Xem bản đồ huyện).

Vị trí địa lý

Là một huyện miền núi thuộc miền Tây Nghệ An, trải dọc theo đôi bờ sông Lam và Quốc lộ 7, phía Đông giáp với huyện đồng bằng Đô Lương, phía Bắc giáp với huyện miền núi Tân Kỳ và huyện vùng cao quỳ Hợp, phía Tây giáp với huyện vùng cao Con Cuông và nước bạn Lào, phía Nam giáp với huyện miền núi Thanh Chương. Cách thành phố Vinh 100km về phía Tây.

Địa hình

Vùng đất Anh Sơn nghiêng dần từ phía Tây về phía Đông, điểm cao nhất là đỉnh núi Kim Nhan ở vùng núi Cao Vều.

 “Lèn Kim Nhan chín tầng mây phủ
Rú Cao Vều ấp ủ tình thương”

Dân số

Theo thống kê đến thời điểm 31/12/2005, huyện Anh Sơn có gần 25.000 hộ với hơn 110.000 nhân khẩu. Có 239 thôn, bản. Trong đó có 18 bản, làng dân tộc thiểu số. Có 19 xã và 1 thị trấn (Trong đó 8 xã có đồng bào dân tộc thiểu số với gần 1.400 hộ và gần 8.000 khẩu, chiếm 6,4% dân số toàn huyện). Số người trong độ tuổi có khả năng lao động hơn: 47000 người. Số người được giải quyết việc làm trong năm bình quân: 1375 người.

Nhân dân Anh Sơn cần cù, ham học, có truyền thống cách mạng, là huyện Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân: Công tác Quốc phòng trong những năm qua được giữ vững, an ninh đảm bảo tốt; Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa phát triển rộng khắp; Công tác Giáo dục - Đào tạo, công tác Y tế ngày càng được củng cố và phát triển.

 

Định hướng phát triển KT-XH giai đoạn 2006 - 2010 của huyện Anh Sơn

 

Về lĩnh vực kinh tếThu hoạch Chè

Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân: 14 - 15%, cơ cấu kinh tế: - ngành nông - lâm -ngư nghiệp: 37% công nghiệp xây dựng: 33%, dịch vụ thưng mại: 30%, thu nhập bình quân đầu người hàng năm 15 - 16 triệu đồng, tăng 2,45 lần so với năm 2005. Đảm bảo diện tích một số cây trồng chủ yếu, như: chè công nghiệp 3 nghìn ha, mía nguyên liệu 9 trăm ha, cam hàng hoá 3 trăm ha. Chăn nuôi trâu bò 45 ngàn con, Lợn 65 ngàn con,...

Về lĩnh vực xã hội

Hoàn thành xây dựng huyện điểm văn hoá, phấn đấu số xã chuẩn Quốc gia về y tế là 60%, tiếp tục xây dựng thiết chế văn hoá đồng bộ, thể dục thể thao trên địa bàn huyện. Phấn đấu tỷ lệ phát triển dân số đến năm 2010 đạt dưới 0,6%. Xây dựng 41 trường đạt chuẩn Quốc gia. đảm bảo chăm lo sức khoẻ cho nhân dân, loại trừ các loại dịch bệnh xã hội, phấn đấu đến năm 2010 có 80% hộ dùng nước hợp vệ sinh, 100% số xã có điện thoại đến trung tâm xã, phủ sóng truyền hình, xây dựng hệ thống truyền thanh và có điện lưới Quốc gia. Phấn đấu tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng xuống còn 20% và giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 15,2% theo chuẩn mới.

Định hướng

Cam Bãi phủ - Anh SơnĐể đảm bảo tốc độ phát triển kinh tế, ổn định tình hình xã hội, giữ vững quốc phòng an ninh giai đoạn (2006 - 2010), huyện Anh Sơn xác định cần khai thác có hiệu quả các tiềm năng về đất đai, tài nguyên, lao động, vận dụng năng động các cơ chế chính sách của Trung ưng, của Tỉnh và tăng cường đẩy mạnh Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá, tiếp tục khắc phục những yếu kém, tồn tại trong phát triển kinh tế, nâng nhịp độ phát triển kinh tế cao hơn nhịp độ của thời kỳ 2001- 2005. Tạo bước chuyển biến về sản xuất và hiệu quả trong phát triển. Nâng cao hiệu quả vận dụng tiến bộ khoa học, công nghệ, giáo dục đào tạo, coi trọng và phát huy lực lượng lao động, chăm lo giải quyết các vấn đề bức xúc về việc làm, xoá đói giảm nghèo, các chính sách xã hội, cải thiện đời sống của nhân dân, từng bước tăng cường cơ sở hạ tầng Kinh tế – Xã hội, giữ vững ổn định chính trị và an toàn xã hội, bảo đảm an ninh vững mạnh, sẵn sàng đối phó với mọi tình huống. Phấn đấu đến năm 2010 huyện Anh Sơn trở thành một trong những huyện khá nhất của Tỉnh về mọi mặt.

Đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn; Từng bước thực hiện cơ giới hoá các khâu trong Sản xuất nông nghiệp, gắn sản xuất với công tác chế biến sau thu hoạch.

Mở rộng và thâm canh các loại cây: Ngô, chè, mía, đậu...Lấy chỉ tiêu giá trị thu nhập trên một đơn vị canh tác làm thước đo trong việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng và mùa vụ.

Chăm sóc cây TiêuPhát triển mạnh chăn nuôi đại gia súc theo hướng chăn nuôi công nghiệp và trang trại, tăng nhanh đàn bò hướng thịt để tham gia chương trình xuất khẩu. 

Phát triển Công nghiệp chế biến chè, mía đường...; Công nghiệp Xi măng theo hướng công nghệ cao, đảm bảo môi trường sinh thái; Phát triển Tiểu thủ công nghiệp gắn với việc chuyển đổi đất trong nông nghiệp để xây dựng nhiều làng có nghề, phát triển tiểu thủ công nghiệp.

Đẩy mạnh công tác xã hội hoá giáo dục phổ thông và dạy nghề; Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục, trên cơ sở nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên nhằm đáp ứng được yêu cầu đặt ra.

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật, các chủ trưng chính sách của Đảng, Nhà nước, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, nâng cao chất lượng các làng bản, đơn vị văn hoá.

Quan tâm công tác giải quyết đơn thư, khiếu tố; Xử lý kịp thời các vướng mắc, mâu thuẫn trong nhân dân, không để đơn thư vượt cấp, đảm bảo “Yên dân”. 

Đẩy nhanh quá trình Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn bằng cách chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, phát triển mạnh kinh tế nông thôn, chú ý phát triển các cây trồng, vật nuôi theo hướng hàng hoá của từng vùng kinh tế, hình thành các vùng cây công nghiệp tập trung và mạng lưới chế biến.

Ưu tiên đầu tư, kêu gọi đầu tư để phát triển các ngành công nghiệp, như: Xi măng - Đường - Chè công nghiệp - Khai thác đá, cát, sỏi - Sản xuất gạch - Xây dựng các làng nghề, nhất là nghề truyền thống.

Từng bước kêu gọi đầu tư để phát triển dịch vụ, du lịch trên địa bàn, nhất là du lịch sinh thái, ở các vùng rừng nguyên sinh của vùng đệm vườn Quốc gia Pù Mát

 

Xóm "Làng Khe" biến đồi trọc thành đồi triệu Nghệ An: 15:10-23/03/2009

 

Xóm có 106 hộ, diện tích chè công nghiệp 120 ha, trên 10 ha chè xanh thực phẩm, gần 200 hồ đập, 10 hộ có máy hái chè. Đây là mô hình nông lâm kết hợp xóm 12 xã Long sơn thường được gọi “Làng khe”.

Xa trung tâm xã 5- 6km, đường lắm dốc nhiều khe, nên trước đây ít người biết đến. 20 năm về trước dân vùng như sống chỉ biết làm ruộng, chặt củi, bóc măng, nuôi ong và thu nhập từ những bó chè xanh, nên cái nghèo vẫn thường xuyên theo đuổi.

Xóm có 106 hộ, 458 khẩu, là người bản địa, họ sống ở đây đã bao đời. Dưới ánh sáng các Nghị quyết của Đảng, xóm 12 Làng Khe nói riêng, Long Sơn nói chung đang từng ngày thay da đổi thịt, nhất là từ khi huyện Đảng bộ có Nghị quyết về phát triển cây chè công nghiệp, là một trong 3 cây mũi nhọn của Anh Sơn. Đảng bộ Long Sơn tập trung chỉ đạo xóm 12, vì ở đây có thế mạnh nhiều diện tích đồi rừng nhưng chưa được khai thác, giao đất. Phải biến đồi trọc thành đồi chè đó là quyết tâm của Đảng bộ Long Sơn. Ban chỉ huy xóm được kiện toàn. Đảng bộ, HĐND xã có Nghị quyết chuyên đề về trồng chè công nghiệp ở Làng Khe. Trồng chè thì dân ở đây có kinh nghiệm nhưng chủ yếu là chè hạt. Được cán bộ Khuyến nông, Xí nghiệp chè mở lớp tập huấn hướng dẫn kỷ thuật từ khâu đào rãnh, trồng, chăm sóc đến thu hái. Các hộ đổi công cho nhau để làm cho nhanh. Từ 2004 rừng Làng Khe từng bước phủ xanh đất trống đồi núi trọc. Các hộ thi đua nhau trồng chè. Hộ ít nhất 0,8 ha, nhiều nhất 3,5 ha như anh Dũng, ông Việt, ông Hiền, ông Liễu, ông Bảo...Tính đến hết 2007 toàn bộ diện tích chè công nghiệp ở Làng Khe đã lên tới gần 120 ha. Mỗi năm sản phẩm chè búp tươi nhập cho xí nghiệp chè từ 300 – 350 tấn. Xí nghiệp chè Anh Sơn đã cho ô tô vào tận nơi để nhận chè đưa về nhà máy. 3 năm nay các hộ còn tự làm vườn ươm với hàng chục vạn bầu chè.

Hai năm qua bà con còn trồng thêm sắn cao sản phục vụ chăn nuôi cũng cho một nguồn thu đáng kể. Năm 2009 sẽ thay sắn bằng cây nguyên liệu giấy để từng bước xây dựng mô hình, trên rừng tràm, giữa là chè, dưới là hồ đập nuôi cá.

Ngoài cây chè công nghiệp ở Làng Khe còn có trên 200 hồ đập vừa nuôi cá, vừa tăng độ ẩm cho chè, một năm, khoảng 150 – 160 tấn cá. Thế mạnh ở đây là đồi rừng, nên nhà nào cũng chăn nuôi trâu bò, tổng đàn lên tới 250 con, có 10 hộ nuôi 4-6 con, xóm Làng Khe xuất hiện một số gia đình làm kinh tế giỏi như: ông Dung, ông Hiền, ông Đạt, ông Bảo...Nhờ phát triển kinh tế nên đời sống dân Làng Khe đổi mới từng ngày, trên 80% hộ có xe máy, 40 gia đình có máy điện thoại. Xóm đã huy động sức dân đóng góp xây nhà văn hoá gần 50 triệu đồng.

Điều phấn khởi của xóm là năm 2008 có 1 em đậu đại học, 6 em đang theo học THPT. Cả xóm chỉ còn 17 hộ nghèo. Đồng chí Bí thư chi bộ Nguyễn Văn Việt cho biết: Xóm có 1 chi bộ Đảng gồm 9 đảng viên, 2 đối tượng Đảng, 22 hội viên CCB và 1 chi đoàn TN là lực lượng nòng cốt của xóm. Xóm trưởng Trương Thanh Đồng tâm sự:Dân ở đây đã nhiều lần kiến nghị với xã và huyện về nguồn điện đang phụ thuộc vào Tổng đội TNXP 1 nên giá 1800 đ/kw. Đề nghị xã cho xây dựng 1 trạm biến thế. Nhưng quan trọng nhất vẫn là đường giao thông. Nếu mưa kéo dài mọi sinh hoạt ở đây sẽ bị đình trệ kể cả việc con em đến trường.

Một xóm như Làng Khe có mô hình phát triển kinh tế, họ đã thực sự biến đồi trọc thành đồi triệu, mô hình này cần được nhân rộng.


Nhắn tin cho tác giả
Lê Thị Phương Mai @ 11:33 24/12/2009
Số lượt xem: 352
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến