Chào mừng quý vị đến với Hành trang cuộc sống - Lê Thị Phương Mai .

Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
Gốc > Hỗ trợ Dạy - Học (B viết) > Ngữ văn > Ngữ văn 11 >

VẺ ĐẸP TÂM HỒN CỦA NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU


Sưu tầm

Nguyễn Đình Chiểu là một minh chứng sống động về tính năng  động của con người. Cuộc đời dù nghiệt ngã, nhưng sự nghiệp của con  người ấy không vì thế mà buông xuôi theo số phận. Vượt qua số phận để  đứng vững trước sóng gió của cuộc đời, chính là thái độ sống có văn hóa,  là nhân cách cao đẹp của Nguyễn Đình Chiểu. Trên cương vị của một nhà  thơ, cái sâu sắc, thâm thúy trong thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu chính là  chỗ chê khen, biểu dương và phê phán, thương ghét rõ ràng, chánh tà  minh bạch, hợp đạo lý, thuận tình người, theo đúng chuẩn mực văn hóa  Việt Nam.

NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU, một con người tiêu biểu cho nhân  cách Việt Nam trong thời kỳ đất nước đầy biến cố, đau thương, nhưng vô  cùng vĩ đại. Đất nước bị ngoại xâm, nỗi nhà tai biến, nỗi mình bi  thương, bao nhiêu nghiệt ngã của cuộc đời trút lên vai một người mù lòa,  sự nghiệp công danh nửa đường dang dở.Sự thách thức nghiệt ngã ấy đặt  ra cho Nguyễn Đình Chiểu thái độ phải lựa chọn lối sống và cách sống như  thế nào cho thích hợp với vai trò người trí thức trước thời cuộc “quốc  gia lâm nguy that phu hữu trách”, và ông đã chọn con đường sống, chiến  đấu, bằng ngòi bút “chí công” với cái tâm “đã vì nước phải đứng về một  phía”.

Nhìn từ góc độ văn hóa, Nguyễn Đình Chiểu là một con người  Việt Nam trọng đạo lý, nặng tình người, đậm đà bản sắc dân tộc, yêu  ghét rõ ràng, khen chê dứt khoát. Vì người, cụ sẵn sàng hy sinh xả thân  không màng danh lợi. Vì đời,cụ chấp nhận mọi thử thách trước khó nghèo,  khổ cực, không hám lợi, không sợ uy vũ, không khuất phục cường quyền.

Với  tất cả vai trò xã hội và sứ mạng của con người mà Nguyễn Đình Chiểu  phải gánh vác: Nhà thơ, nhà giáo, thầy thuốc, người công dân, chiến sĩ  yêu nước... cho đến cuối đời cụ vẫn kiên cường vượt qua số phận, hoàn  thành xuất sắc thiên chức của mình, để lại cho đời sau một tấm gương về  cách sống trong sáng đến tuyệt vời:

“Sự đời thà khuất đôi tròng thịt
Lòng đạo xin tròn một tấm gương”

Con  người là sản phẩm của hoàn cảnh, nhưng nhân cách của con người không  chỉ là sản phẩm thụ động của hoàn cảnh.Ngày xưa cụ Nguyễn Du từng cho  rằng: “Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều”.

Nhân cách của  Nguyễn Đình Chiểu là một minh chứng sống động về tính năng động của con  người. Cuộc đời dù nghiệt ngã, nhưng sự nghiệp của con người ấy không vì  thế mà buông xuôi theo số phận.Vượt qua số phận để đứng vững trước sóng  gió của cuộc đời, chính là thái độ sống có văn hóa, là nhân cách cao  đẹp của Nguyễn Đình Chiểu.

Trên cương vị của một nhà thơ, cái sâu  sắc, thâm thúy trong thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu chính là chỗ chê  khen,biểu dương và phê phán, thương ghét rõ ràng, chánh tà minh bạch,  hợp đạo lý, thuận tình người, theo đúng chuẩn mực văn hóa Việt Nam, Nhà  thơ mù lòa ấy là một trong những người đầu tiên đưa ra thông điệp tố cáo  hành động phản văn hóa, mất tính người của bọn thực dân xâm lược. Về  tội ác hủy diệt cuộc sống yên lành của nhân dân, ông viết:

“Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy
Mất ổ bầy chim nháo nhác bay”.

Với tội ác xâm lược phản văn hóa ngang nhiên đoạt tài sản và hủy hoại một cách dã man những di sản văn hóa của nhân dân ta:

“Bến Nghé của tiền tan bọt nước
Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây”.

Của tiền là sự tích góp của một đời người lao động sáng tạo vô cùng vất vả.

Tranh  ngói là cả một dinh cơ sự nghiệp, nhà cửa, đền, miếu, đình, chùa phải  mấy trăm năm với bàn tay và khối óc của nhiều người mới dựng nên cơ  nghiệp lớn lao ấy.

Trong hoàn cảnh đất nước lâm nguy, một bọn  người mang danh kẻ sĩ đã hèn nhát đầu hàng kẻ thù, phản bội đất nước.  Nguyễn Đình Chiểu là người sớm biểu lộ thái độ khinh miệt bọn đê hèn và  phản văn hóa ấy:

“Dù đui mà giữ đạo nhà
Còn hơn có mắt ông cha không thờ.
Dù đui mà khỏi danh nhơ
Còn hơn có mắt ăn dơ tanh rình”.

Với  quan điểm xem ngòi bút là vũ khí chiến đấu “Đâm mấy thằng gian bút  chẳng tà”,Nguyễn Đình Chiểu đã trực tiếp đả kích bọn Việt gian khoác áo  văn chương như loại Tôn Thọ Tường thường mượn màu chữ nghĩa làm đảo lộn  trắng đen. Cụ viết:

“Thây nay cũng nhóm văn chương
Vóc dê da cọp khôn lường thực hư”.

Các  tác phẩm văn học của Nguyễn Đình Chiểu có sức sống bền vững trong tình  cảm nhân dân. Lý tưởng thẩm mỹ trong các nhân vật anh hùng đã nêu bật  một lối sống có văn hóa và khí phách anh hùng đặc trưng bản sắc Việt  Nam. Đó là lối sống trọng đạo lý và công bằng xã hội, trọng con người và  căm ghét áp bức bất công. Cái “hào khí Đồng Nai” ấy được thể hiện qua  hành động của các nhân vật trong truyện thơ Lục Vân Tiên, trong các  nghĩa sĩ Cần Giuộc và nghĩa sĩ lục tỉnh thời Nam Kỳ kháng Pháp đến nay  vẫn còn được tiếp nối và phát huy trong đời sống văn hóa của nhân dân ta  ở miền Nam. Trong một thời gian khá dài từ đầu thế kỷ XX đến nay,  truyện thơ Lục Vân Tiên đã là nội dung diễn xướng dân gian với các loại  hình như nói thơ, hò, vè, ca ra bộ trong sinh hoạt văn hóa quần chúng và  chính đề tài Lục Vân Tiên - Kiều Nguyệt Nga sớm thể hiện trên sân khấu  ca kịch cải lương khi bộ môn nầy vừa mới ra đời trên kịch trường Nam bộ.  Gần nay đề tài nầy đã và đang được dựng lên thành nhạc kịch hiện đại,  dựng thành phim truyện v.v... Hơn một thế kỷ qua, hiếm thấy nhà văn nào  mà tác phẩm có tính phổ cập sâu rộng và có sức sống lâu bền trong đời  sống văn hóa của nhân dân như vậy.

Trên lĩnh vực giáo dục, là một  nhà giáo, trọn đời thầy Đồ Chiểu chăm lo dạy dỗ môn sinh, truyền thụ  cho thế hệ tương lai những điều cốt lõi của văn hóa Việt Nam về đạo lý  truyền thống của dân tộc và nhân cách của một kẻ sĩ. Hào khí Đồng Nai,  một nét đẹp văn hóa của con người Nam bộ được nuôi dưỡng và phát huy  chính là nhờ sự nghiệp giáo dục của biết bao thế hệ người thầy đầy tâm  huyết mà được truyền thụ đến ngày nay, trong đó nhà thơ - nhà giáo  Nguyễn Đình Chiểu là một trong những người có công lớn. Chúng ta đều  biết Nguyễn Đình Chiểu là học trò đời thứ hai của nhà giáo Võ Trường  Toản ở Gia Định, một ông thầy nổi tiếng về phương pháp giáo dục tri  ngôn, dưỡng khí, tập nghĩa, một nhà trí thức sớm nổi tiếng ở đất Đồng  Nai - Gia Định, không màng danh lợi, suốt đời chăm lo đào tạo thế hệ  moan sinh có chí, có tài, biết lấy “thảo ngay làm nghĩa cả”.

Võ Trường Toản là thầy học của Nghè Chiêu.
Nghè Chiêu là thầy dạy Nguyễn Đình Chiểu.

Từ  lò đào tạo Hòa Hưng của Võ Trường Toản mà thế hệ các nhà văn thơ trước  đó và cùng thời với Nguyễn Đình Chiểu dù vận nước đến thế nào cũng tràn  đầy “hơi chính khí”. Kẻ sĩ Gia Định chính là sản phẩm của phong cách rèn  luyện của một ông thầy giỏi, giỏi đến mức dạy nên những người học trò  nổi tiếng hơn mình.

Thầy Đồ Chiểu dạy học trò theo phong cách ấy.

Nhiều  thế hệ môn sinh của Đồ Chiểu tiếp thu sự giáo dục của thầy nuôi dưỡng ý  chí, rèn luyện tinh thần để sẵn sàng trở thành “trang dẹp loạn” mà sinh  thời cụ Đồ Chiểu hằng mong ước. Từ Nhiêu Đẩu, Nhiêu Gương ở Mỏ Cày cuối  thế kỷ XIX đến các trí thức Nho học Lê Văn Đẩu, Trần Văn An, Huỳnh Khắc  Mẫn ở Ba Tri nửa đầu thế kỷ XX đều là những thế hệ môn sinh đầy nhiệt  huyết mang đậm dấu ấn giáo dục của thầy giáo Nguyễn Đình Chiểu.

Nhân  cách của nhà giáo Nguyễn Đình Chiểu có ảnh hưởng rất lớn đối với vùng  đất Bến Tre và xa hơn nữa. Đất anh hùng từng sản sinh ra nhiều nhân vật  anh hùng trong sự nghiệp chống giặc cứu nước. Ngày nay nói đất Bến Tre  là quê hương của cụ Đồ Chiểu chính là nói đến truyền thống văn hóa Việt  Nam mà Nguyễn Đình Chiểu là một con người tiêu biểu và là người có công  bảo vệ và truyền lại cho các thế hệ sau nầy những gì tốt đẹp nhất của  truyền thống văn hóa ấy.

Nguyễn Đình Chiểu còn là một thầy thuốc  giỏi, một lương y thông hiểu sâu sắc y lý phương Đông và y lý Việt Nam  cả về y thuật và y đức mà y đức của cụ chính là đạo cứu người lồng trong  nghĩa vụ cứu dân cứu nước. Tác phẩm lớn cuối đời của Nguyễn Đình Chiểu  là quyển “Ngư Tiều y thuật vấn đáp”, một quyển sách dạy đạo làm người và  đạo làm thầy thuốc cứu người. Yêu nước và yêu thương con người chính là  tư tưởng chủ đề của tác phẩm:

“Xưa rằng quốc thử lời khen phải
Giúp sống dân ta trọn lẽ trời”

Giáo  sư Lê Trí Viễn viết trong lời tựa quyển “Ngư tiều y thuật vấn đáp” lần  xuất bản năm 1982: “Y thuật ấy là kết tinh nghề thuốc trong hằng trăm bộ  sách của mấy mươi thế kỷ. Yêu nước ấy có chiều sâu cá nhân một đời  người và chiều sâu lịch sử dân tộc hằng mấy ngàn năm. Nhưng cả hai đều  đúc lại thành một thang thuốc hồi sinh, một đạo lý sống, một con đường  phù hợp cho những con người yêu nước bình thường trong tình hình quê  hương rơi vào tay giặc: giữ vững khí tiết không phục vụ quân thù, làm  một công việc vừa có ý nghĩa vừa giúp dân, vừa giúp nước...”.

Đối  với lương y Nguyễn Đình Chiểu, y đạo tức là nhân đạo, mà chủ nghĩa nhân  đạo của cụ là chủ nghĩa nhân đạo nhân dân rất gần gũi với chủ nghĩa  nhân đạo cộng sản:

“Thấy người đau giống mình đau
Phương nào cứu đặng, mau mau trị lành.
Đứa ăn mày cũng trời sanh
Bịnh còn cứu đặng thuốc dành cho không”.

Cảm  ơn đức của cụ, khi cụ Đồ Chiểu mất, nhiều bịnh nhân được cụ cứu khỏi  bịnh ngặt nghèo đến xin để tang cụ như con cháu trong nhà.

Kỳ  Nhân Sư một hình tượng lý tưởng trong tác phẩm “Ngư Tiều y thuật vấn  đáp” của Nguyễn Đình Chiểu đã tự xông đui đôi mắt của mình cho tròn y  đạo và nhân đạo để không phải đem nghề y ra phục vụ cho kẻ thù của Tổ  quốc và nhân dân. Nhân cách cao thượng ấy của Nguyễn Đình Chiểu còn để  lại dấu ấn sâu sắc trong các thế hệ lương y sau nầy. Người thầy thuốc  chân chính trong nhân dân làm nghề thuốc còn vì mục đích từ thiện chớ  không phải chỉ có kinh doanh trên sự đau khổ của đồng bào.

Nguyễn  Đình Chiểu làm thơ để biểu lộ lòng yêu nước, thương dân và lấy đó làm  vũ khí chống giặc; làm ông Đồ dạy học không biết mệt mỏi vì sự nghiệp  nuôi dưỡng “hào khí Đồng Nai” giữ gìn bản sắc Việt Nam trong đời sống  văn hóa của nhân dân giữa thời loạn ly; làm thầy thuốc vì đạo cứu người  chứ không chỉ vì nghề để vụ lợi. Đó là lối sống có văn hóa, biết tự hào  dân tộc, biết tự trọng của một người trí thức chân chính, biết trân  trọng phẩm giá của con người, giữ đúng tiết tháo của một kẻ sĩ.

Bằng  cuộc đời và sự nghiệp của mình, Nguyễn Đình Chiểu đã góp phần xứng đáng  cho đời sống văn hóa dân tộc trải qua thử thách nghiệt ngã được bảo tồn  và phát triển. Sống trong tình thương và sự kính trọng của nhân dân,  những người làm nên lịch sử và sáng tạo văn hóa, Nguyễn Đình Chiểu mãi  mãi là một nhân cách lớn, một nhà văn hóa chân chính của nhân dân

 

HƯỚNG DẪN PHÂN TÍCH BÀI VĂN TẾ

Nguyễn Đình Chiểu (1822 – 1888) là ngôi sao sáng của nền văn nghệ đất  nước ta trong nửa sau thế kỷ 18. Bị mù, vừa dạy học, làm thuốc và viết  văn thơ. Sống vào thời kỳ đen tối của đất nước: giặc Pháp xâm lăng, đất  Nam Kỳ lần lượt rơi vào tay giặc. Tinh thần nhân nghĩa, lòng yêu nước  thương dân và căm thù giặc Pháp xâm lược là những tư tưởng, tình cảm sâu  sắc, mãnh liệt trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu.

Tác phẩm:

- Truyện thơ: Lục Vân Tiên, Dương Từ Hà Mậu, Ngư Tiều y thuật vấn đáp.

- Văn tế: Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Văn tế Trương Định, Văn tế Nghĩa sĩ trận vong Lục tỉnh.

- Thơ: Nhiều bài thơ Đường luật – cảm hứng yêu nước.

Xuất xứ, chủ đề

- Cần Giuộc thuộc Long An. Trận Cần Giuộc là một trận đánh lớn của  quân ta, diễn ra đêm 14/12 âm lịch (1861). Hơn 20 nghĩa quân đã anh dũng  hy sinh. Tuần phủ Gia Định là Đỗ Quang đã yêu cầu Đồ Chiểu viết bài văn  tế này. Ngay sau đó, vua Tự Đức ra lệnh phổ biến bài văn tế trong các  địa phương khác.

- Bài văn tế ca ngợi những nghĩa sĩ – nông dân sống anh dũng, chết vẻ vang trong sự nghiệp đánh Pháp để cứu dân, cứu nước.

Hình ảnh người nghĩa sĩ

1. Nguồn gốc: Nông dân nghèo khổ “cui cút làm ăn”, cần cù lao động  “chỉ biết ruộng trâu ở trong làng bộ”. Chất phác hiền lành:

“Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm;
Tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó:

2. Tâm hồn: Yêu, ghét dứt khoát, rõ ràng: “ghét thói mọi như nhà ông  ghét cỏ” “đâu dung lũ treo dê bán chó”. Căm thù quyết không đội trời  chung với giặc Pháp:

“Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan,
Ngày xem ống khói chạy đen sĩ, muốn ra cắt cổ”

Yêu nước, yêu xóm làng quê hương, tự nguyện đứng lên đánh giặc: “Mến  nghĩa làm quân chiêu mộ”, “phen này xin ra sức đoạn kình”, “chuyến này  dốc ra tay bộ hổ”

3. Trang bị

- Không phải là lính  chính quy của Triều đình, “chẳng phải quân cơ, quân vệ”, chẳng có “bao  tấu, bầu ngòi”. Họ chỉ là “dân ấp dân lân”, vì “bát cơm manh áo” mà đánh  giặc. Trang bị thô sơ, áo mặt chỉ là “một manh áo vải”, vũ khí là một  ngọn tầm vông, một lưỡi gao phay, hoặc “hỏa mai đánh bằng rơm con cúi” …

Kẻ thù của họ là mã tà, ma ní, là thằng Tây “bắn đạn nhỏ đạn to”, có “tàu thiếc, tàu đồng súng nổ”.

4. Chiến đấu dũng cảm và anh dũng hy sinh:

- Dũng mãnh tiến công như vũ bão, “đạp rào lướt tới”, “kẻ đâm ngang, người chém ngược”, “bọn hè trước lũ ó sau”.

- Coi cái chết nhẹ tựa lông hồng, lẫm liệt hiên ngang: “nào sợ thằng  Tây bắn đạn nhỏ đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có”, “trối  kệ tàu thiếc, tàu đồng súng nổ”.

- Chiến công oanh liệt: “đốt xong nhà dạy đạo kia”, cũng chém rớt đầu quan hai nọ”, “làm cho mã tà, ma ní hồng kinh”

- Hy sinh đột ngột trên chiến địa: “Những lăm lòng nghĩa lâu dùng; đâu biết xác phàm vội bỏ”.

Tóm lại, Nguyễn Đình Chiểu đã ngợi ca, khâm phục và biết ơn các  nghĩa sĩ. Ông đã dựng lên một tượng đài bi tráng về người nông dân đánh  giặc cứu nước trong buổi đầu giặc Pháp xâm lăng đất nước ta.

Tình cảm đẹp, tư tưởng rất tiến bộ

“Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” hàm chứa những tình cảm đẹp, tư tưởng rất tiến bộ của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu.

- Ca ngợi lòng yêu nước, căm thù giặc và tinh thần tự nguyện đánh  giặc để cứu nước của các nghĩa sĩ. Khẳng định vị trí và vai trò của  người nông dân trong lịch sử chống xâm lăng vì độc lập, tự do của Tổ  quốc.

- Tiếc thương những nghĩa sĩ đã anh dũng hy sinh (câu 18, 25)

- Khẳng định một quan niệm về sống và chết: chết vinh còn hơn sống  nhục. Không thể “theo quân tà đạo”, “ở lính mã tà” đánh thuê, làm bia đỡ  đạn, sống cuộc đời bán nước cầu vinh “chia rượu lạt, gặm bánh mì, nghe  càng thêm hổ”. Trái lại, phải sống anh dũng, chết vẻ vang: “Sống đánh  giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh, muôn kiếp nguyện  được trả thù kia…”.

- Tự hào về các nghĩa sĩ đã bỏ mình vì Tổ  quốc. Tên tuổi họ, tinh thần họ bất tử: “danh thơm đồn sáu tỉnh chúng  đều khen…”, “tiếng ngay trải muôn đời ai cũng mộ”, “cây hương nghĩa sĩ  thắp thêm thơm”… Tóm lại, lần đầu tiên trong nền văn học dân tộc, Nguyễn  Đình Chiểu đã khắc hoạ và ca ngợi người nông dân Nam Bộ và những anh  hùng thời đại đã sống, chiến đấu và hy sinh vì đại nghĩa.

Nghệ thuật

1. Ngôn ngữ bình dị như cách nói, cách nghĩ và cách cảm của nhân dân  miền nam. Các kiểu câu tứ tự, song quang, cách cú, gối hạc, câu nào  cũng đặc sắc, khô ứng, đối chọi cân xứng đẹp.

2. Chất chữ tình kết hợp với chất anh hùng ca tạo nên màu sắc bi tráng.

3. Hình tượng người chiến sĩ nghĩa quân được khắc họa tuyệt đẹp trong tư thế lẫm liệt hiên ngang.

Có thể nói, “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” là một bài ca yêu nước chống  xâm lăng, là kiệt tác trong kho tàng văn tế cổ kim của dân tộc.

 

 

Nhà phê bình Hoài Thanh, trong bài viết Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc - một trong những bài văn hay nhất của chúng ta đã công nhận là từ trước khi có tác phẩm này, trong văn chương chưa hề có một cái nhìn yêu thương và kính phục như vậy đối với người nông dân: Nhớ linh xưa: cui cút làm ăn - toan lo nghèo khó”, và ông viết: "Bao nhiêu yêu thương trong hai từ cui cút ấy”!

Cũng xin nói "cui cút" là từ ngữ "đặc Nam Bộ" nhưng thực ra ai cũng hiểu, và sách giáo khoa Văn học lớp 11 cũng đã chú thích khá rõ: "Cui cút làm ăn: có nghĩa là làm ăn lẻ loi, thầm lặng một cách tội nghiệp". Thực ra, trường ngữ nghĩa của "cui cút" còn rộng và sâu hơn "tội nghiệp" rất nhiều. Chỉ trong một câu văn 8 chữ: “cui cút làm ăn; toan lo nghèo khó" đã hiện lên đầy đủ một vòng đời không lối thoát của người nông dân Việt, người "dân ấp dân lân" Nam Bộ. Bắt đầu bằng cui cút, vật lộn làm ăn, toan lo để cuối cùng kết thúc trong nghèo khó. Cứ ngỡ họ sẽ mãi mãi cam chịu như thế: Chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ, và đúng như cụ Đồ Chiểu đã tả: Việc cuốc việc cày việc bừa việc cấy tay vốn quen làm; tập khiên tập súng tập mác tập cờ mắt chưa từng ngó. Họ thật thà và ngây thơ lắm, đến nỗi: Trông tin quan như trời hạn trông mưa, nhưng họ cũng dữ dằn lắm đó nghe: Ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ. Đừng đùa với họ, nhất là đừng lừa họ, bịp họ! Đọc văn tế phải đặc biệt chú ý đến phép đối ngẫu, cả đại đối và tiểu đối. Người ta nói dường như từ văn tế đến thơ văn xuôi là một khoảng cách khá gần, đúng là như thế. Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc trong khi tuân thủ chặt chẽ lề luật của một bài văn tế thông thường, đã vượt lên thành một tác phẩm văn học độc đáo có một không hai. Đây là lần đầu tiên trong văn học thành văn Việt Nam xuất hiện hình ảnh người nông dân - chiến sĩ, người cố nông, bần nông - nghĩa sĩ. Và Nguyễn Đình Chiểu là nhà thơ Việt đầu tiên công khai vẽ lên và ngợi ca hình ảnh người anh hùng Chẳng qua là dân ấp dân lân, mến nghĩa làm quân chiêu mộ. Giọng thơ bi thiết, hào sảng, dữ dội, dịu dàng, khi đôn hậu lúc quật cường ấy chính là giọng điệu chủ của văn học viết về chiến tranh, cuộc chiến tranh bắt đầu từ người dân, người lính, những nghĩa sĩ vô danh trùng trùng điệp điệp đã làm nên đất nước này và thề gìn giữ đất nước này.

Xin hãy đọc đoạn văn viết về thân phận con người trong chiến tranh này và so sánh: Chùa Tôn Thạnh năm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm; đồn Lang sa một khắc đặng trả hờn, tủi phận bạc trôi theo dòng nước đổ - Đau đớn bấy! Mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều; não nùng thay! Vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ. Có thể coi đó là những câu thơ hay câu văn viết về chiến tranh thực nhất và hay nhất mọi thời đại. Nếu không phải là "nhà thơ của nhân dân", nếu không sống đến tận cùng tâm cảm niềm đau nỗi khổ của nhân dân thì không bao giờ viết được một áng văn như Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc.

Đúng, cụ Đồ Chiểu chỉ là một nhà thơ mù, một "người hát rong của nhân dân". Sinh thời cụ cũng không có chức tước gì, cũng chẳng được (hoặc không muốn nhận) đồng nhuận bút nào từ những tác phẩm của mình, nhưng một số tác phẩm cụ để lại mà tiêu biểu nhất là Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc đã làm giàu cho nền văn học Việt Nam ở vào thời điểm thử thách khắc nghiệt nhất cho văn học và cho cả lịch sử đất nước.

Chớ động vào những ngôi đền thiêng do chính nhân dân dựng lên! Cụ Đồ Chiểu "thảo dân" và Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là ngôi đền thật, ngôi đền thiêng của văn học chúng ta. Hãy cẩn trọng khi chạm đến nó.


Nhắn tin cho tác giả
Lê Thị Phương Mai @ 19:45 22/08/2013
Số lượt xem: 2253
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến