Chào mừng quý vị đến với Hành trang cuộc sống - Lê Thị Phương Mai .

Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
Gốc > Quản lý - giáo dục > Lý luận và thực tiễn >

Những bài văn "có vấn đề" giúp người thầy hiểu họcsinh?

TTO - Với đề văn “Em hãy trình bày suy nghĩ của em về hiện tượng nói tục chửi bậy trong học đường hiện nay?”, V.H.L., một học sinh lớp 12, dã viết một bài văn sử dụng nhiều câu thô tục, bậy bạ, những từ lóng...

Từ bài văn điểm 0 cho học sinh chửi bậy:

V.H.L. kết luận “trường hợp nào trong chúng ta cũng có thể nói bậy. Cơ bản là nó ăn sâu vào máu rồi, người nào mà chẳng chửi”.

Nói bậy phổ biến

Trước đó, trên mạng xã hội Facebook cũng rải rác xuất hiện nhiều status của học sinh trung học chửi bậy, nói xấu thầy cô, bố mẹ. Một teen là học sinh lớp 11 Trường THĐ (Hà Nội) từng viết “Không muốn nhận ông bà ấy là bố mẹ” để phản đối việc không được bố mẹ mua vé cho đi xem ca sĩ thần tượng biểu diễn. Trên diễn đàn của một số học sinh trường THPT, THCS, nhiều học sinh cũng sử dụng để bàn chuyện một cách thoải mái về quay cóp khi thi, về thầy, cô giáo, bạn bè với từ ngữ thiếu văn hóa, nhưng được coi như “mốt ăn nói” trong giới học sinh.

Một cô giáo Trường THCS Đống Đa (Hà Nội) làm công tác chủ nhiệm lớp 9 cho biết: “Với sự giúp đỡ của một vài học sinh ngoan, tôi vào được diễn đàn của học sinh trong lớp và tôi thật sự choáng khi các em thoải mái văng những từ bậy bạ”.

Tại Hà Nội, chỉ cần dạo một vòng các điểm trường THPT vào giờ tan học, ngồi chen cùng học sinh trong các quán cóc vỉa hè thì có thể thấy nhận định của V.H.L. tuy khó chấp nhận nhưng không phải không có căn cứ. Nam sinh ngồi với nhau nói bậy. Nhiều nữ sinh ăn diện, xinh xắn cũng nói bậy. Tình trạng nói bậy, chửi tục, hỗn láo đối với thầy cô, cha mẹ và người lớn nói chung đang ngày càng phổ biến hơn trong giới học sinh thành phố.

Em Đỗ Thu Hà, học sinh lớp 10 Trường THPT Trần Phú, hồn nhiên cho biết: "Không phải ai cũng dám nói bậy trong bài văn như thế nhưng ở bên ngoài thì nhiều. Những lời lẽ, câu chửi như thế bọn em nghe quen lắm”.

Trả lời câu hỏi: “Có bao giờ nói bậy, chửi bậy trong trường như thế không?”, một học sinh Trường THPT Kim Liên (Hà Nội) cho biết: “Việc đó là bình thường. Dĩ nhiên trước mặt thầy cô, bố mẹ, bọn em không nói thế, chỉ nói với nhau thôi. Nói nhiều thì thấy cũng không có gì gây sốc”.

Không coi đây là “chuyện nhỏ”, ông Nguyễn Hiệp Thống, phó giám đốc Sở GD-ĐT Hà Nội, cho biết Hà Nội thời gian qua đã có nhiều giải pháp. Một số trường đã tổ chức các câu lạc bộ Sống đẹp, diễn đàn trao đổi các vấn đề học sinh quan tâm. Sở GD-ĐT Hà Nội cũng có văn bản nhắc nhở các trường chấn chỉnh và có hình thức định hướng cho học sinh, không chỉ chuyện ăn nói mà cả việc ứng xử với thầy cô, bạn bè... Tuy nhiên đây là hiện tượng khó chấm dứt nếu như học sinh chưa có nhận thức đúng đắn, chưa kể các em hằng ngày tiếp nhận nhiều thông tin trên mạng khác nhau không được kiểm chứng, chọn lọc, sự tác động tiêu cực từ phía người lớn, từ môi trường gia đình.

Cơ hội của người thầy

Tuy chưa thấy việc học sinh chửi bậy trong bài văn nhưng thầy Vương Gia Thắng, giáo viên Trường THPT Lương Thế Vinh (Hà Nội), kể: “Khi còn là giáo viên ở Trường THPT Đinh Tiên Hoàng (Hà Nội), tôi từng chứng kiến câu chuyện có thật. Một giáo viên mới vào lớp thì nhiều học sinh nhao nhao hô to “M. hâm, M. hâm” (M. là tên cô giáo). Cô giáo đã rất bình tĩnh nói: “Mời các em ngồi xuống! Cô rất cảm ơn các em đã cho cô biết như thế. Đúng cô là M. hâm, cô hâm thật. Vì hâm nên cô đã từ chối dạy học ở một trường tốt hơn để về đây nhận công việc dạy học tại một môi trường được coi là khó khăn hơn, học sinh cá tính hơn. Thôi thì nồi nào úp vung nấy, chúng ta hãy cùng làm quen với nhau và cô hi vọng chúng ta có thể có tiếng nói chung".

Sau lời đáp lại của cô M., những học sinh nhao nhao áp đảo cô im bặt.

 

Theo thầy Nguyễn Tùng Lâm - chủ tịch Hội Tâm lý giáo dục Hà Nội, đồng thời là hiệu trưởng Trường THPT Đinh Tiên Hoàng - thì những phản ứng của học sinh, dù trong sinh hoạt thường ngày, trên lớp hay trong các bài văn, đều là cơ hội để người thầy hiểu về học sinh, để biết những căn nguyên dẫn đến các hành vi, thái độ lệch lạc của các em mà có cách chấn chỉnh, giúp đỡ.

Trở lại bài văn học sinh nói bậy, lời phê khá lạnh lùng: “Cần xem lại đạo đức bản thân” cũng khiến nhiều thầy, cô dạy văn có ý kiến khác nhau.

Cô Nguyễn Kim Anh, Trường THPT Phan Huy Chú (Hà Nội), nhận xét: "Nhiều năm trong nghề, tôi chưa từng gặp một tình huống sư phạm nào như việc em học sinh viết văn nói bậy. Nhưng đã là giáo viên thì luôn phải chuẩn bị đón nhận những tình huống sư phạm thế này. Việc học sinh nói bậy không phải ít hiện nay nhưng chuyện viết thẳng vào bài văn là hi hữu. Biết đâu khi viết bài văn đó, em học sinh đang bức xúc, tức giận, thất vọng vì điều gì đó, biết đâu em đó đang có những khó khăn, biến cố cần được quan tâm".

“Chắc chắn nếu tôi gặp một bài văn thế này, tôi không dừng lại ở việc cho điểm, mà sẽ gặp em học sinh đó để nói chuyện. Vì đằng sau bài văn là suy nghĩ của một học sinh hoặc của cả bộ phận học sinh mà người thầy cần biết” - cô Kim Anh nói.

Còn cô Nguyệt Anh, Trường Hà Nội - Amsterdam, một cô giáo cực kỳ tận tụy, tỉ mỉ trong việc chấm bài và trao đổi, tương tác với học sinh thông qua bài văn, chia sẻ: “Tôi sẽ không cho điểm 0. Bởi cho dù thông tin trong bài là tiêu cực thì ít nhất bài văn cũng nói lên được một hiện tượng có thật và đáng báo động, nó cũng thể hiện việc em học sinh dám nói thật điều mà không phải người lớn nào cũng biết ở “thế giới tuổi teen”. Tôi sẽ gặp gỡ, trao đổi, tranh luận và ra thêm những bài văn mở cho em học sinh đó và các em trong lớp. Các em hoàn toàn có thể tranh luận về một vấn đề trong giới của mình để tìm ra điểm tương đồng và một hướng đi đúng hơn”.

Trong một bài văn mở của cô Nguyệt Anh giao cho học sinh Trường Amsterdam, yêu cầu nêu suy nghĩ về quy định mặc đồng phục khi đến trường, có em đã thẳng thắn cho rằng: “Việc mặc đồng phục thật khó chịu và chẳng có ý nghĩa gì cả”.

Bài văn này được cô giáo phê: “C. (tên học sinh) là một cô gái có cá tính, bài văn của con gai góc và chẳng giống ai. Cô tôn trọng việc con dám nói ra suy nghĩ thật của riêng mình, nhưng cô khuyên con nên nghĩ kỹ hơn và thận trọng trong phát ngôn”. Cô Nguyệt Anh kể: “Tôi có gặp riêng em ấy, giữa chúng tôi cũng có tranh luận, nhưng sau đó em ấy đã bị tôi thuyết phục”.

Một bài văn “có vấn đề” không nguy hiểm bằng những bài viết đẹp đẽ theo văn mẫu. Bởi vậy cùng với việc cảnh báo về sự xuống cấp về suy nghĩ, hành vi của học sinh, có nhiều điều chúng ta cần suy ngẫm.

Vĩnh Hà

 

Viết lời phê hay nghệ thuật phản hồi trong lớp

Trong bài “Nghĩ về một bài luận văn bị điểm 0” vừa rồi, tôi có nhận xét về lời phê của giáo viên đối với bài luận văn bị xem là tục tĩu của một em học sinh lớp 12 trong nước: “Em cần xem lại đạo đức bản thân”. Tôi cho phê như vậy không những sai trong cách đánh giá mà còn sai cả về nguyên tắc sư phạm.

Nhưng nguyên tắc sư phạm trong việc viết lời phê như thế nào?

Dưới đây, tôi chỉ xin tập trung vào việc nhận xét và đánh giá của các thầy cô giáo trong các lớp ngôn ngữ. Một số nguyên tắc chung, tôi nghĩ, có thể ứng dụng cho việc dạy các môn khác.

Tôi gọi chung tất cả các nhận xét và đánh giá của thầy cô giáo, bao gồm cả các lời phê trên các bài làm của học sinh, là “phản hồi” (feedback).

1. Định nghĩa:

Phản hồi (feedback) bao gồm những nhận xét và đánh giá của giáo viên đối với các bài làm và bài tập của học sinh. Đó là một phần quan trọng trong nội dung giáo dục và là một trong những nhiệm vụ chính của giáo viên. Phản hồi có thể được chia thành hai loại chính:

Một, phản hồi tích cực nhằm khẳng định những cái đúng và sự tiến bộ của học sinh để biểu dương hoặc khuyến khích. Hai, phản hồi tiêu cực (negative feedback) hoặc còn gọi là sửa lỗi (error corrective feedback) nhằm chỉ ra những lỗi sai và sửa các lỗi sai ấy. Hai loại phản hồi ấy có thể được thực hiện theo nhiều mức độ khác nhau. Một, một cách nhẹ nhàng, bằng cách gật đầu hay cười khi học sinh nói đúng hoặc nói hay; lắc đầu nhẹ khi họ sai hoặc làm điều gì không phải; nhắc lại chữ mà học sinh phát âm sai nhưng không cần giải thích (recast). Hai, một cách chi tiết hoặc bằng lời nói (khi khen hay sửa lỗi của học sinh) hoặc bằng văn viết (sau mỗi bài làm, bài tập hay luận văn của học sinh).

2. Chức năng:

Dù dưới hình thức hay mức độ nào thì phản hồi, nói chung, cũng có năm chức năng chính là giúp học sinh:

  1. Nhận ra lỗi sai để sửa
  2. Nhận ra mặt yếu của họ để cố gắng khắc phục
  3. Nhận ra mặt mạnh của họ để tiếp tục phát huy
  4. Biết được họ đang ở đâu so với những mục tiêu được đề ra cho khoá học
  5. Nhận thức về những tiến bộ mà họ đã đạt được

Ý nghĩa của việc phản hồi trong các lớp ngôn ngữ khác hẳn các ngành học khác.

Thứ nhất, các lỗi của học sinh đều có tính chất cá nhân và do đó, chỉ có thể sửa hay khắc phục thông qua cá nhân. Ví dụ, trong giờ học toán, sau mỗi bài tập, giáo viên chỉ cần đưa ra bài đáp mẫu, từ đó, học sinh có thể hiểu ngay tức khắc là mình đúng hay sai; nếu sai, sai chỗ nào. Trong giờ ngôn ngữ, ngược lại, mỗi bài làm của học sinh, dù về một đề tài chung, vẫn có những chỗ sai khác nhau. Do đó, một đáp án mẫu do giáo viên đưa ra sẽ không có ý nghĩa gì nhiều. Giáo viên cần phải nhận xét từng bài. Mà không phải chỉ nhận xét suông.

Sau khi chỉ ra chỗ sai, giáo viên cần chỉ cả cách sửa các lỗi sai ấy.

Thứ hai, các lỗi sai của học sinh học ngôn ngữ thứ hai thường nhiều và để sửa hay khắc phục, cần rất nhiều thời gian. Do đó, giáo viên cần phải có cả một chiến lược phản hồi trong dài hạn. Ví dụ, trong một, hai học kỳ đầu tiên của lớp tiếng Việt dành cho người ngoại quốc, đừng quan tâm quá nhiều đến việc sửa cách phát âm các thanh điệu. Quan tâm, đã đành; nhưng đừng quan tâm quá mức. Phải xem các sai sót của họ là điều có thể chấp nhận được và sẽ giải quyết dần dần. Với học sinh Việt Nam ở hải ngoại cũng vậy, ở giai đoạn đầu, nên có thái độ khoan dung với việc bỏ dấu thanh điệu: Đó là một công việc cần nhiều thời gian, không thể giải quyết ngay tức khắc.

3. Phân loại:

Phản hồi có thể được chia thành hai loại chính:

  1. Phản hồi tích cực (positive feedback): Ghi nhận những thành quả mà học sinh đạt được, từ những thành quả nhỏ nhất như dùng một từ đúng đến những thành quả lớn như viết được một bài văn xuất sắc.
  2. Phản hồi tiêu cực hay còn gọi là sửa lỗi (corrective / negative feedback): Nhắc học sinh những lỗi họ mắc phải, từ những lỗi nhỏ nhất như cách phát âm, chính tả, cách dùng từ đến kiến thức và cách hành xử trong lớp.

Hai loại phản hồi trên có thể xuất hiện dưới hai hình thức chính: nói và viết.

  1. Phản hồi nói: Khi học sinh đang thực tập nói hoặc thảo luận trong lớp.
  2. Phản hồi viết: Khi chấm bài tập hoặc bài làm của học sinh.

4. Chiến lược phản hồi nói: Cũng bao gồm hai loại phản hồi chính nêu trên, tích cực và tiêu cực.

  1. Phản hồi tích cực. Khi học sinh nói đúng, giáo viên nên có phản hồi ngay tức khắc để, thứ nhất, học sinh ấy biết là mình đúng; thứ hai, các học sinh khác cũng biết như vậy là đúng; và thứ ba, để học sinh ấy thêm tự tin. Phản hồi tích cực có thể được tiến hành bằng ba cách chính, từ thấp đến cao:
    • Xác nhận: Gật đầu và cười khi học sinh nói đúng.
    • Khuyến khích: Ghi nhận sự tiến bộ hay cố gắng của học sinh. Ví dụ: “Em phát âm phụ âm ng được rồi đó! Em thử lại lần nữa xem sao? Đúng rồi, em phát âm chữ ‘nghi ngờ’ rất đúng. Chữ ‘nguyễn’ khó hơn một chút, em thử phát âm lại xem sao.”
    • Khen ngợi: “Em nói rất chính xác”; “Không ngờ em biết nhiều về Việt Nam đến vậy!”
       
  2. Phản hồi tiêu cực. Khi học sinh nói sai, tuỳ trường hợp, giáo viên nên sửa ngay hoặc chờ em nói xong.

    Có hai cách sửa chính:
    • Đưa ra câu trả lời đúng ngay (giving-answer strategies), bao gồm các hình thức:
    • Lặp lại chữ hay câu nói sai của học sinh để lưu ý là em sai. Ví dụ, học sinh: “Hôm qua, em đọc thư viện.” Giáo viên: “Em đọc thư viện?” Học sinh: “Xin lỗi. Hôm qua, em đọc sách ở thư viện.” Giáo viên (gật đầu): “Vâng, đọc sách ở thư viện.”
    • Sửa ngay những chữ các em nói sai. Ví dụ, học sinh: “Hôm qua, em đến nhà lúc 12 giờ khuya.” Giáo viên: “Về nhà.”
    • Giúp học sinh trả lời khi các em không biết hoặc biết nhưng không chắc chắn. Ví dụ, học sinh: “Tiếng Việt có nhiều phương ngữ: phương ngữ miền Bắc, phương ngữ....” Giáo viên: “miền Trung và miền Nam.”
    • Gợi ý cho học sinh tự tìm câu trả lời đúng (prompting-answer strategies): Giáo viên không đưa ra câu trả lời đúng ngay mà chỉ gợi ý để học sinh tự suy nghĩ và tìm kiếm. Cách này bao gồm hai hình thức chính:
    • Nêu lên đầu mối siêu ngôn ngữ (meta-linguistic cues): Giáo viên đưa ra một số thông tin chung quanh vấn đề hoặc một số nguyên tắc ngữ pháp để học sinh tự tìm câu trả lời. Ví dụ, học sinh: “Nhà em có một chó và hai mèo.” Giáo viên: “Sau số từ, cần có loại từ.” Học sinh: “Nhà em có một con chó và hai con mèo.”
    • Làm sáng tỏ câu hỏi: Khi học sinh đáp sai vì hiểu nhầm câu hỏi, giáo viên cần nhắc lại hoặc nói rõ hơn về câu hỏi. Giáo viên: “Hôm nay ngày mấy?” Học sinh: “Hôm nay Thứ hai.” Giáo viên: “Thầy/cô hỏi ngày chứ không phải thứ.” “Học sinh: “Hôm nay ngày 29.”

5. Chiến lược phản hồi viết: Khi chấm bài viết của học sinh, giáo viên cần làm ba điều:

  1. Phát hiện những điểm hay (ví dụ, một cách dùng từ xuất sắc, một cách cấu trúc câu độc đáo hoặc một cách nhập đề hay kết luận ấn tượng) và những điểm sai (trong chính tả, từ vựng, cú pháp hay kiến thức và lập luận).
  2. Giải thích và sửa những lỗi sai ấy.
  3. Đánh giá tổng quát về những mặt mạnh và mặt yếu của bài viết.

6. Nguyên tắc phản hồi

  1. Phản hồi càng sớm càng tốt. Nếu học sinh đang nói, nên sửa ngay lúc em đang nói hoặc khi em vừa nói xong. Nếu là bài viết thì nên chấm và trả lại bài viết với các phản hồi vào buổi học kế tiếp.
  2. Mọi phản hồi đều căn cứ trên những gì học sinh nói hoặc viết. Tuyệt đối không nhắm vào tính cách của học sinh. Ví dụ, viết “Nhận xét này rất tinh tế” thay vì “em là người rất tinh tế”, hoặc “em nên cố gắng viết chữ rõ và trình bày sạch sẽ hơn” thay vì “em cẩu thả lắm”; hoặc “tiếng Việt có sáu thanh chứ không phải năm thanh. Không dấu cũng là thanh - thường gọi là thanh ngang” thay vì “sao chuyện đơn giản vậy mà em cũng không biết?” v.v.
  3. Ý kiến phản hồi nên mang tính miêu tả một cách cụ thể. Nếu học sinh sai, sai như thế nào? Nếu hay, hay ra sao? Tránh viết quá chung chung.
  4. Luôn luôn bám sát vào những mục tiêu đã được đề ra để đánh giá và từ đó, phản hồi. Không đòi hỏi học sinh những gì nằm ngoài mục tiêu của bài làm hay bài học. Và cũng không cần vội sửa những lỗi sai quá phổ biến và gần như không thể tránh được ở những người mới học tiếng Việt (ví dụ phát âm chưa đúng các thanh điệu).
  5. Cần quân bình giữa phản hồi tích cực và tiêu cực. Không nên chỉ chê và sửa sai. Cần nêu lên những ưu điểm để tránh làm học sinh mất tự tin. Lời phản hồi tích cực nên đi trước lời phản hồi tiêu cực.
  6. Nhiều nhà giáo dục còn khuyên: không nên dùng bút đỏ để phê bài học sinh. Nó gợi cảm giác đe doạ. (Một số trường còn biến lời khuyên này thành một mệnh lệnh: Cấm dùng!)
  7. Cần khen ngợi học sinh. Nhưng nên vừa phải và thành thực. Tuyệt đối tránh ấn tượng là sáo rỗng hoặc giả dối.
  8. Mọi phản hồi đều có tính chất riêng tư, chỉ dành cho học sinh được nhận. Cho người khác xem hay không là quyền của học sinh ấy. Giáo viên không nên để học sinh đọc phần phản hồi về một học sinh khác, nhất là đối với các phản hồi có tính tiêu cực.
  9. Điều quan trọng nhất cần nhớ: Mục tiêu chính của phản hồi là giúp học sinh tiến bộ và duy trì động cơ học tập chứ không phải để họ chán nản, tuyệt vọng và mất tự tin.
  10. Nguyễn Hưng Quốc

Nhắn tin cho tác giả
Lê Thị Phương Mai @ 21:17 20/01/2013
Số lượt xem: 1033
Số lượt thích: 0 người
Avatar

Một bài văn “có vấn đề” không nguy hiểm bằng những bài viết đẹp đẽ theo văn mẫu. Bởi vậy cùng với việc cảnh báo về sự xuống cấp về suy nghĩ, hành vi của học sinh, có nhiều điều chúng ta cần suy ngẫm.

 
Gửi ý kiến